Quay về trang chủ

Trường tiểu học An Phước

★★★★★

/5 ( đánh giá)

Có nguồn gốc từ Nghĩa thục Cẩm Toại do sĩ phu Cần Vương Lâm Hữu Mẫn sáng lập năm 1888 để dạy học vì việc nghĩa, trường Tiểu học An Phước là một trong những cái nôi hiếu học lâu đời nhất Đà Nẵng. Chuyển mình thành trường Tân học theo phong trào Duy Tân năm 1906 với lý tưởng "khai dân trí", ngôi trường đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước cho nhiều thế hệ trí thức và chiến sĩ cách mạng. Bề dày truyền thống ấy tự hào đến mức trường đã vinh dự nhận được bức thư ngợi khen mang tầm lịch sử từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khẳng định vị thế một biểu tượng giáo dục kiên trung.

Tham quan ảo 360°

Thông tin địa điểm

Địa chỉ: QL14B, Xã Hòa Vang, Đà Nẵng, Việt Nam

Giới thiệu

LÝ LỊCH DI TÍCH TRƯỜNG TIỂU HỌC AN PHƯỚC

(Thôn Cẩm Toại, xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng)

1. Tên gọi:

Trường tiểu học An Phước.

Còn có tên qua các giai đoạn:

- Từ năm 1908- 1926: Trường dân lập Cẩm Toại  (hay Nghĩa thục An Phước).

- Từ năm 1926- 1932: là trường công lập mang tên Ecole Cantonale d’ An Phước (Trường tổng An Phước).

- Từ năm 1932- 19368: Trường đổi tên là Ecole Élémentaire d’An Phước (trường sơ học An Phước).

- Từ 1938- 1945: đổi tên Ecole Complémentaire d’An Phước (trường tiểu học An Phước).

- Từ tháng 9/1945 cho đến nay: trường mang tên Việt là Trường tiểu học An Phước.

2. Địa điểm phân bố di tích- Đường đi đến:

Di tích trường tiểu học An Phước hiện nay ở tại thôn Cẩm Toại, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Cách thành phố Đà Nẵng khoảng 20km về phía tây- nam. Để đến di tích, từ Đà Nẵng đi theo đường quốc lộ 14B đến trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Hòa Phong, và đi tiếp khoảng 300m là đến di tích, ngay cạnh đường 14B, sát đình Cẩm Toại về hướng Đông.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính của di tích:

Trước đây, làng Cẩm Toại là một trong 16 làng của tổng An Phước, thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Làng có 3 xóm: Xóm Đông, xóm Đình và xóm Tây. Nay là 3 thôn: Cẩm Toại Đông, Cẩm Toại Trung, Cẩm Toại Tây thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Người dân An Phước từ xưa đã có truyền thống cần cù lao động, yêu nước và hiếu học. Vào đầu thế kỷ XX, có nhiều gia đình trong tổng thuộc dòng khoa bảng. theo xu hướng cải cách của phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng. Trường Cẩm Toại tại tổng An Phước, huyện Đại Lộc (nay thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) theo đường lối “khai thông dân trí” của phong trào Duy Tân, dạy theo lối mới.

Về tiền thân của ngôi trường Cẩm Toại: Trường do ông Tú Lâm Hữu Mẫn (cha của ông Lâm Quang Tự) thành lập vào năm 1888 (chứ không phải thành lập vào năm 1908 do ông Lâm Quang Tự lập nên như một số tài liệu đã ghi).

Ông Lâm Hữu Mẫn thi đỗ tú tài trong hoàn cảnh đất nước bị mất chủ quyền, đã nhận thức được trách nhiệm của kẻ sĩ phu khi quốc gia lâm nguy, tích cực tham gia Nghĩa hội Quảng Nam do Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo. Ông Lâm Hữu Mẫn được giao giữ chức Bang tá Tỉnh Vụ Nghĩa hội Cần Vương tỉnh Quảng Nam. Sau thất bại lớn ở trận An Lâm (phía tây huyện Hà Đông, nay thuộc xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước), Nghĩa hội suy yếu, nghĩa quân Quảng Nam tan rã, ông về quê mở trường dạy học, đồng thời lấy trường làm địa điểm sinh hoạt cho các sĩ phu trong vùng, từ các cụ nghĩa sĩ Cần Vương năm xưa đến những sĩ phu hoạt động Duy Tân những năm đầu thế kỷ XX.

Trường Cẩm Toại nằm ở vị trí giao thông thuận lợi, tại vườn cụ Hương ở Gò Lòi, cạnh cầu Muồng, nối liền hai làng Cẩm Toại và La Châu. Học trò không chỉ con em trong làng Cẩm Toại mà còn có con em các làng La Châu, Hương Lam theo học. Trường dạy chữ cho cả trẻ em và người lớn, không thu học phí vì mục đích của trường dạy học vì việc nghĩa. Ông Lâm Quang Tự, con trai cụ Lâm Hữu Mẫn cũng theo học trường này, lớn lên được gặp gỡ với các đồng chí của cha, nên ông sớm thức thời..(theo Ngô Văn Minh, “Trường Tân học Cẩm Toại” bài đăng trong tạp chí Khoa học và phát triển số 69/2000).

Đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân khởi phát tại làng Phú Lâm huyện Lễ Dương (nay thuộc xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước), sau lan nhanh ra vùng Bắc Quảng Nam tạo nên một không khí mới với khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”…Các nhà nho mở trường tân học, lập hội diễn thuyết, hùn vốn lập Hương Hội ở Diên Phong, Hội An…Ông Lâm Hữu Mẫn hưởng ứng phong trào Duy Tân, giao trường lại cho con trai là Lâm Quang Tự- tức ông Nghè Lâm, đỗ tú tài nho học- “Quản học vấn” cho con em trong vùng, rồi đứng ra tập hợp thanh niên lên Đồng Xanh, Đồng Nghệ (nay thuộc xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang) mở doanh điền theo chủ trương “Dĩ nông hợp quần” của các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân.

Tuy được đào tạo theo nho học nhưng ông Lâm Quang Tự đã thấy mặt hạn chế của nho học nên ra sức tìm học chữ quốc ngữ, thường gặp gỡ các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng…, tích cực chuẩn bị điều kiện để chuyển sang dạy chữ quốc ngữ vào mùa xuân Bính Ngọ (1906).

Trường nho học Cẩm Toại được ông Nghè Lâm chuyển thành một trường tân học theo lối học của tất cả các trường Duy Tân trong tỉnh: dạy chữ Quốc ngữ, cùng những môn học như toán, sử ký, địa dư, cách trí (khoa học thường thức)…; lịch học của trường theo phương châm “Thả học, thả canh”, tức vừa làm ruộng, vừa dạy học, chỉ dạy vào lúc nông nhàn, nghỉ học vào những ngày mùa để lo việc gặt hái…Ngoài giờ dạy học, ông Lâm Quang Tự còn tổ chức tại trường những buổi diễn thuyết, tuyên truyền tư tưởng mới, tư tưởng dân chủ dân quyền trong nhân dân như đả phá mê tín dị đoan, bài trừ hủ tục, thực hiện nếp sống văn minh.

Năm 1908, để tưởng nhớ cụ Ông Ích Đường vừa mới hi sinh và như là một phản kháng lại hành động dã man của thực dân Pháp đã xử chém đầu Ông Ích Đường ở chợ Túy Loan, ông Lâm Quang Tự được nhân dân và các nhân sĩ trong vùng giúp đỡ dời trường từ xóm Đông lên xóm Đình, mặt trông thẳng ra đường 14. Trường ở vị trí đó cho đến ngày nay.

Trường Cẩm Toại hoạt động theo tôn chỉ Duy Tân được hai năm (1906- 1908) thì phong trào chống thuế nổ ra. Thực dân Pháp và tay sai đàn áp phong trào Duy Tân, lùng bắt các sĩ phu tham gia phong trào, tiêu diệt các cơ sở có liên quan đến phong trào, nhiều trường tân học bị lính thực dân đến phá hủy hoặc phải tự đóng cửa. Trường Cẩm Toại may mắn vượt qua đợt khủng bố của thực dân nhờ tài ứng xử khôn khéo của ông Âm Sáu (con trai cụ Đỗ Thúc Tịnh).

Trường Cẩm Toại khi dời ra xóm Đình, lúc đầu chỉ là một ngôi nhà bằng gỗ, mái lợp tranh, chỉ có một phòng học. Việc lập trường này, ngoài ông lâm Quang Tự (tức ông Nghè Lâm) còn được sự ủng hộ nhiệt tình của tầng lớp trí thức nông thôn, thân hào tiến bộ và nhân dân trong vùng đã đóng góp tiền của, công sức…như cụ Chánh tổng Lâm Quang Toàn (tức Chánh Tiếng), cụ Lê Phú Vấn, cụ Cửu Tham, cụ Xã Quỳ, cụ Đặng Nghị (tức Chánh Ký)…Lúc đầu, học sinh đi học chưa nhiều, trường chỉ có một lớp do ông Nghè Lâm dạy cả ba chương trình, từ Lớp Đồng ấu, Dự bị đến Sơ đẳng.

Năm 1912 trường đã có học sinh đầu tiên như Lê Tu (tức Phó Đạt), Trần Viên (tức Xã Phụng) đỗ bằng tuyển sanh…

Năm 1915, học sinh trường Cẩm Toại tăng lên 50 đến 60 em, do vậy thân hào nhân sĩ và nhân dân trong vùng đã chung tiền mở rộng thêm trường thành hai phòng học, nhà gỗ, mái lợp tranh do hiệu trưởng Lâm Quang Tự trực tiếp dạy một lớp, và mời ông Trần Quốc Thắng (tức Cửu Huynh hay Giáo Thắng) dạy một lớp. Vào thời gian này, Tổng cũng làm tờ trình gửi Tri huyện Đại Lộc và đốc học tỉnh Quảng Nam xin công nhận trường là trường công và cử giáo viên chuyên nghiệp về.

Nhưng mãi đến năm 1924, Thanh tra học chánh mới về xem xét. Đến năm 1926, Đốc học tỉnh Quảng Nam công nhận Trường là trường công lập mang tên Ecole Cantonale d’ An Phước (trường tổng An Phước) và bắt đầu bổ nhiệm giáo viên chuyên nghiệp. Các lớp học cũng được mang tên tiếng Pháp là Cour Enfantin (lớp Đồng Ấu, còn gọi là lớp năm) và Cour Préparatoire (lớp Dự bị hay lớp Tư). Tỉnh chỉ cấp kinh phí cho hai lớp. Cũng vào dịp này, người dân các làng xung quanh và phụ huynh học sinh đã tự đóng góp thêm xây dựng mở rộng thành ngôi trường ba gian hai chái, có bốn lớp học, với tường xây, mái lợp ngói. Khi trường có đủ lớp học, tỉnh cho mở thêm Cours Élémentaire (lớp Sơ đẳng tức lớp Ba) và bổ nhiệm thầy Lê Khôi ở Vĩnh Điện về làm hiệu trưởng. Dần dần số học sinh của Trường ngày càng đông hơn, có thêm nhiều thầy giáo từ các nơi cử về dạy. Sau ngày có nghị định lập bằng Sơ học yếu lược thay cho bằng Tuyển sanh, số học sinh của Trường thi đỗ bằng Sơ học yếu lược ngày càng nhiều…

Sau đó, Trường được mở thêm Cour Moyen Première (lớp Nhì nhất niên), vào mùa Hè năm 1932, trường được đổi tên thành Ecole Cantonale d’ An Phước (trường Sơ học An Phước), thầy Hoàng Trọng Phiếm, người tỉnh Thừa Thiên Huế được bổ nhiệm về dạy lớp Nhì nhất niên và làm hiệu trưởng. Lúc này số học sinh của trường rất đông, số học sinh của các tổng bạn ở Phước Tường, Thanh An, An Thới và các làng bên thuộc thuộc phủ Điện Bàn nô nức đến xin học…Trường lớp đã trở nên quá nhỏ, cần xây dựng mở rộng trường, nhưng không thể huy động dân làng đóng góp mãi. Lúc này, các cựu học sinh của trường đã tìm cách gây dựng quỹ để xây dựng trường: như tổ chức các buổi diễn hát bội, vận động quyên góp trong bạn bè và một số chức sắc trong tổng như các ông Chánh Tiếng, Chánh Ký…Nhờ vậy, Trường được xây lại khang trang và thoáng mát hơn, mở rộng thêm các phòng học, sửa chữa bốn lớp cũ, đóng thêm bàn ghế cho các lớp…Năm 1938 trường mở Cours Moyen dexième année (lớp Nhì nhị niên), và đầu năm học 1939- 1940, được đốc học tỉnh duyệt đồng ý cho mở Cours Supérieur (lớp Nhất) để trở thành trường tiểu học hoàn chỉnh (Ecole Primaire Complémentaire d’ An Phước), cuối năm học này đã có những học sinh đầu tiên thi đỗ bằng tiểu học ở trường tỉnh. Từ đó, đốc học tỉnh Quảng Nam quyết định cho trường được đăng cai tổ chức thi bằng Sơ học Yếu Lược cho các trường thuộc Hòa Vang.

Việc trường Tiểu học An Phước trở thành trường tiểu học hoàn chỉnh là niềm tự hào lớn của người dân An Phước, vì lúc bấy giờ nhiều trường ở các phủ huyện khác cũng chưa đạt được. Từ một trường dân lập tranh tre nhỏ bé với hơn hai chục học sinh trở thành một trường tiểu học công lập khá khang trang có hàng trăm học sinh là cả một quá trình chăm lo xây dựng của nhân dân, thân hào nhân sĩ địa phương và các thầy cô giáo.

Các thế hệ thầy cô giáo và học sinh của trường hăng hái tham gia phong trào yêu nước, cách mạng ở địa phương và ở những nơi họ học tập, làm việc. Nhiều học sinh của trường được kết nạp vào Đảng Cộng sản trước Cách mạng tháng Tám- 1945, là nòng cốt trong phong trào tiền khởi nghĩa của tổng An Phước và huyện Hòa Vang. Nổi bật trong giai đoạn này, có cô giáo Nguyễn Thị Đợi- là đảng viên Cộng sản đàu tiên của trường trong năm học 1943- 1944, vừa dạy vừa đảm nhiệm đường dây liên lạc của Xứ Ủy Trung Kỳ; thầy Đặng Ngọ- sau này là liệt sĩ hy sinh ở cương vị Xã đội trưởng xã Hòa Khương; thầy Châu Quang Thuyên- sau này là liệt sĩ, hy sinh khi đang là Chủ tịch UBKC huyện Hòa Vang…

Sau Cách mạng tháng Tám, tháng 9/1945 trường bỏ tên cũ bằng tên Pháp và lấy tên mới là trường tiểu học An Phước. Trường tiếp tục khai giảng, thầy và trò nô nức đến trường đón thư Bác Hồ gởi các cháu học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên dưới mái trường cách mạng. Đây là trường duy nhất có đầy đủ các lớp thuộc hệ tiểu học cho cả vùng thung lũng sông Túy Loan, tây nam Hòa Vang. Học sinh muốn vào học phải qua thi luyện để duy trì đảm bảo kỷ cương của một trường có truyền thống hiếu học.

Ngày 26/9/1945, chỉ 3 ngày sau tiếng súng Nam bộ kháng chiến, thầy trò nhà trường đã cùng đông đảo nhân dân toàn tổng tập hợp ở sân trường để làm lễ tiễn đưa 30 thanh niên, hầu hết là học sinh cũ của trường lên đường, tham gia đoàn quân Nam tiến đầu tiên của tỉnh Quảng Nam…Ngoài việc học văn hóa dưới mái trường cách mạng, học sinh trường An Phước được tổ chức thành các chi đội thiếu niên, nhi đồng, học các bài hát thiếu nhi và cách mạng, hoặc chơi các trò chơi đánh giặc giả trên đồi Cây Cốc, cấm Chu Hương, giúp học sinh có những ý niệm sơ khai về kiến thức quân sự rất cần thiết cho hoạt động du kích sau này. Thầy trò trường An Phước tích cực tham gia các hoạt động như Bình dân học vụ, tăng gia sản xuất, tuần lễ vang, hủ gạo chống đói…Khi cả nước bước vào toàn quốc kháng chiến, Trường đóng cửa, các thầy cô giáo và những học sinh lớn tuổi tham gia kháng chiến, một số hồi cư về địa phương và tham gia du kích địch hậu hoặc các hoạt động kháng chiến phù hợp với hoàn cảnh của mình.

Cuối năm 1946, Nhà nước quyết định giải thể cấp Tổng, thành lập cấp Xã. Tổng An Phước chia thành 2 xã: Liên An và Phước Hiệp. Trường tiểu học An Phước đứng trên địa bàn hành chính của xã Liên An (sau này, lần lượt đổi tên thành Hòa Minh, Hòa Khương và nay là xã Hòa Phong).

Từ năm 1947 đến năm 1955, trường tiểu học An Phước bị thực dân Pháp chiếm làm đồn bót, trại lính…Nhưng với truyền thống hiếu học của người dân An Phước, ý thức “Khai dân trí, chấn dân khí” còn rất sâu đậm trong các cụ cao tuổi, một số thầy giáo và các cựu học sinh trường An Phước tự tổ chức các lớp học, phân tán trong các làng bị tạm chiếm như Bồ Bản, Túy Loan, Cẩm Toại, Dương Lâm và trong các làng thuộc khu du kích…Lớp học là nhà dân hoặc láng trại, học sinh thiếu sách vở, giấy bút, thầy giáo không có lương, nội dung giảng dạy tùy kiến thức của thầy giáo. Với sự nhiệt tình của thầy trò cũng như của các gia đình học sinh, các lớp học này đã giúp cho một số trẻ em trong vùng khỏi bị thất học.

Cuối năm 1955, chính quyền Diệm khôi phục lại trường tiểu học An Phước nhưng các lớp học phải tổ chức ở các đình, chùa Túy Loan, Bồ Bản vì trường cũ đã từ lâu trở thành trại lính. Đến năm 1957, Trường mới chuyển về vị trí cũ. Đội ngũ thầy cô giáo phát triển đông hơn.

Năm 1994, được sự giúp đỡ của các ngành, các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, trường tiểu học An Phước mở lớp dạy trẻ em khuyết tật (là một trong những trường tiểu học đầu tiên của cả nước mở loại hình lớp học này). Kết quả giáo dục các lớp khuyết tật chuyên biệt của trường được thành phố Đà Nẵng và Bộ Giáo dục và Đào tạo động viên khen thưởng.

Năm 2001, trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt trường chuẩn quốc gia.

4. Loại hình di tích:

Di tích Trường tiểu học An Phước thuộc loại hình di tích Lịch sử (Lưu niệm sự kiện).

5. Khảo tả di tích:

Trường tiểu học An Phước hiện đã được xây mới lại toàn bộ, khang trang với ba dãy nhà xây, 1 tầng lầu, mặt tiền hướng về hướng Đông, bên đường Quốc lộ 14B, cạnh đình làng Cẩm Toại. Xung quanh có tường rào xây gạch bao bọc, lối vào cổng chính bề thế với tấm biển “Trường Tiểu học An Phước” được gắn trên 2 trụ của cổng chính. Với diện tích toàn trường là 8903m  trên một khoảng sân trường rộng thoáng mát để cho các em vui chơi ngoài giờ học…Hiện nay trường có 21 lớp học, tổng số học sinh 542 em. Trong đó, có một lớp khuyết tật chuyên biệt với 16 em.

6. Các hiện vật trong di tích:

Hiện nay, tại phòng truyền thống của trường còn trưng bày một số bằng Sơ học Yếu lược mà học sinh trường An Phước đã được cấp trong thời gian học tại trường.

7. Các hình thức sinh hoạt văn hóa, dân gian, lễ hội:

Hàng năm, vào ngày 14-6 thầy trò trường tiểu học An Phước làm lễ kỷ niệm để tưởng nhớ những người đã có công tác trên khắp mọi miền đất nước đều tham dự đông đủ, để ôn lại truyền thống về mái trường cách mạng ngày xưa.

8. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, văn hóa:

Xã Hòa Phong hôm nay là một phần của tổng An Phước ngày xưa, đây là một xã ít người, nhưng con người ở đây có truyền thống hiếu học từ xưa và tinh thần cách mạng kiên trung…Nhiều tộc họ trong tổng An Phước thuộc dòng khoa bảng, học giỏi như tộc Lâm, Lê (Cẩm Toại), tộc Đặng (Túy Loan), tộc Huỳnh (Bồ Bản), tộc Châu (Khương Mỹ). Có hai văn miếu được xây dựng ở làng Túy Loan.

Trong chế độ cũ, xã Hòa Phong có nhiều người học giỏi, giữ chức vụ cao như Thượng tướng quân Lê Thống Chế, Y phu Đốc xuất Lê Đình Dư, Đô đốc Đặng Văn Kiếm, Tán Tương quân vụ Lê Quốc Hàn, Đại thần thủ ngự quan Phan Hữu Trí, Tướng thần Phan Thế Khanh, Tán Lý quân vụ Trần Văn Nghị, Đại phu Bình Thuận Trấn Phạm Hưng Nhượng, Thượng tướng Đặng Công Văn…Nhiều thân hào, nhân sĩ và người dân tham gia phong trào Cần Vương, Duy Tân, phong trào chống thuế. Từ khi có Đảng lãnh đạo, người dân làng Hòa Phong hăng hái tham gia đấu tranh giành chính quyền sớm nhất huyện Hòa Vang, trong đó nhiều cựu học sinh An Phước là cán bộ ở địa phương và trong huyện…

Trường An Phước ban đầu là trường dân lập do cụ Tú Lâm Hữu Mẫn thành lập vào năm 1888. Khi cụ Lâm Hữu Mẫn hưởng ứng phong trào Duy Tân, giao lại trường cho trai là Lâm Quang Tự “khai dân trí”. Năm 1908 được sự giúp đỡ của cha và sĩ phu yêu nước, ông Lâm Quang Tự đã chuyển trường nho học Cẩm Toại thành trường tân học Cẩm Toại dạy chữ quốc ngữ và các môn khoa học mới (toán, sử ký, địa lý…) theo phương pháp và sách giáo khoa chung của các trường duy tân trong tỉnh, đổi mới cách thức giáo dục như học văn hóa kết hợp với sản xuất, lao động trong ngày mùa, con trai đi học cắt tóc ngắn, thu nhận học sinh gái đến trường, con gái ngồi học chung cùng với con trai…Đây là ngôi trường tiểu học xây dựng sớm nhất trong thành phố Đà Nẵng, là nơi góp phần không nhỏ cho việc đào tạo nhân tài xây dựng quê hương, rèn luyện các chiến sĩ cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc; là nguồn động lực thúc đẩy tinh thần yêu nước, truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ ở địa phương.

Trong hai cuộc kháng chiến, Hòa Phong là vùng đất chiến tranh ác liệt, địch ra sức càn quét các cơ sở cách mạng của ta, nhưng trường tiểu học An Phước vẫn duy trì mở cửa dạy học, ngoại trừ một số năm không ổn định…Trong hoàn cảnh bị địch o ép trăm bề nhưng thầy và trò trường An Phước vẫn không hề nao núng, các thầy cô tâm huyết vẫn kiên trì bám trường, bám lớp dạy học sinh. Theo ngày tháng, học sinh trường An Phước trưởng thành, lần lượt lên đường tham gia kháng chiến, tiếp bước truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông ta tự ngày xưa. Nhiều người đã hy sinh anh dũng (hơn 400 liệt sĩ của Hòa Phong là cựu học sinh trường An Phước). Bên cạnh đó có rất nhiều cựu học sinh An Phước đã thành đạt trở về, góp phần xây dựng lại đất nước.Nhiều người đã đạt được những học hàm, học vị cao về khoa học và giáo dục: giáo sư, tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, nhà giáo ưu tú như: Trần Ngọc Toàn, Lâm Quang Cường, Lâm Quang Thiệp, Trương Công Phú, Đỗ Nghĩa, Đỗ Thanh Quả, Lê Phú Lộc, Đặng Công Lý, Trần Cát…

Như lời phát biểu của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về trường tiểu học An Phước khi đến thăm trường: “Chúc các Thầy và Trò trường tiểu học An Phước phát huy truyền thống vẻ vang từ xưa, đoàn kết phấn đấu xây dựng trường phát triển về moi mặt, nêu tấm gương sáng cho ngành giáo dục.”

Nhìn lại quá trình trưởng thành của trường. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi nhận: “Là một trường Nghĩa thục nổi tiếng suốt gần 100 năm nay đã từng có nhiều hy sinh và cống hiến lớn đối với sự nghiệp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, giải phóng và xây dựng Tổ quốc”.

9. Tình trạng bảo quản di tích:

Lớp học đầu tiên được xây dựng vào năm 1888 với vật liệu tranh tre, mái lợp tranh (do ông Tú Lâm Hữu Mẫn, cha ông Lâm Quang Tự) đứng ra xây dựng trong vườn cụ Hương ở Gò Lòi, ngay bên cầu Muồng.

Đến năm 1908, dời đến địa điểm ngày nay, xây dựng một phòng học, nhà gỗ mái lợp tranh do ông Lâm Quang Tự đứng ra xây dựng với sự hưởng ứng giúp đỡ của dân trong làng và các sĩ phu yêu nước trong tổng An Phước lúc bấy giờ.

Năm 1915, trường được mở rộng thành 2 phòng học, kinh phí do người dân  trong làng đóng góp.

Năm 1926, người dân các làng xung quanh và phụ huynh học sinh đã tự nguyện đóng góp mở rộng thành 4 phòng học, với tường xây, mái lợp ngói.

Năm 1932, mở rộng thêm 2 phòng và sửa chữa 4 phòng học cũ. Đóng thêm bàn ghế mới cho học sinh các lớp. Kinh phí do các cựu học sinh tiến bộ của trường An Phước vận động gây quỹ, và một số chức sắc trong làng tự nguyện đóng góp.

Đến năm 1957, phục hồi lại trường lớp sau thời gian bị giặc chiếm đóng làm trại lính.

Năm 1998- 1999, do số lượng học sinh ngày càng đông, trường đã tách làm hai: một học tại trường An Phước cũ, một học tại trường tiểu học Hòa Phong (cạnh trường An Phước cũ).

Năm 2003, trường An Phước xây dựng mới hoàn toàn và được nới rộng thêm diện tích trường cho đến ngày nay.

Hiện nay, ngôi trường cũ đã tách hai: một nửa thuộc trường An Phước (do nới rộng trường nên nhập vào trường tiểu học Hòa Phong), một nửa thuộc về Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Hòa Vang, cạnh đình làng Cẩm Toại.

10. Các phương án bảo vệ, sử dụng di tích:

Trường tiểu học An Phước là một trong những ngôi trường được thành lập sớm nhất ở thành phố Đà Nẵng. Hiện đã được xây dựng mới hoàn toàn. Bảo tàng Đà Nẵng xin có kiến nghị sau:

Địa phương cần có kế hoạch gắn bia để bảo vệ và phát huy tác dụng di tích, nhằm tuyên truyền và giáo dục cho thế hệ trẻ ở địa phương.\

11. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích:

Trường tiểu học An Phước đã được đăng ký bảo vệ theo quyết định số 17274/QĐ-UB ngày 28/11/2000 của UBND thành phố Đà Nẵng.


Giờ mở cửa

 

Vé tham quan

 

Liên hệ

Liên hệ:  
Website:  
Phương tiện di chuyển: Xe máy, xe ô tô

Lượt tham quan

1

THƯ VIỆN HIỆN VẬT

Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm

0 hiện vật được trưng bày