Quay về trang chủ

Đình làng Dương Lâm

★★★★★

/5 ( đánh giá)

Khởi nguyên là một ngôi chùa cổ thờ Quan Công dưới thời vua Tự Đức (1866), đình làng Dương Lâm hôm nay là nơi lưu giữ nét kiến trúc ba gian bốn mái lợp ngói âm dương trầm mặc, cùng bộ vì kèo chạm trổ đầu rồng vô cùng tinh xảo. Vượt qua những thăng trầm thời gian, ngôi đình đã chuyển mình trở thành không gian sinh hoạt văn hóa, tâm linh linh thiêng của dân làng. Đặc biệt, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, di tích này từng là căn cứ trú quân kiên cường, ghi dấu trận chiến oanh liệt ngày mùng 9 Tết Kỷ Dậu (1969) của quân và dân địa phương.

Tham quan ảo 360°

Thông tin địa điểm

Địa chỉ: Dương Lâm 2, An Tân, xã Hòa Vang, Đà Nẵng, Việt Nam

Giới thiệu

I. Tên gọi: Đình Dương Lâm.

(Trước đây, Đình có tên gọi là chùa Dương Lâm là nơi để thờ Quan Công. Sau Cách Mạng tháng 8 -1945 mới dùng làm Đình).

II. Vị trí phân bố - Đường đi đến:

Đình Dương Lâm nằm ở thôn Dương Lâm II, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Để di đến di tích này ta có thể đi bằng các phương tiện giao thông đường bộ. Từ ngã ba Túy Loan theo quốc lộ số 604 ta đi khoảng 50m đến ngã ba đầu tiên, rẽ phải đi vào đường liên thôn bằng bê tông khoảng 800m là đến đình Dương Lâm.

III. Sự kiện – nhân vật lịch sử:

Làng Dương Lâm là một làng thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Đông giáp làng Bồ Bản và Cẩm Toại, tây giáp làng Cư NHơn và An Tân, nam giáp làng Cẩm Toại, bắc giáp làng Túy Loan. Trước Cách Mạng T8/1945, làng có tên là xã Dương Sơn, thôn Dương Lam đến triều vua Bảo Đại mới đổi tên thành làng Dương Lâm.

Làng Dương Lâm trước đây gồm ba xóm: xóm phía Nam, xóm phía Bắc, xóm phía Đông (tức xóm Bàu Thị). Sau ngày giải phóng năm 1975, tách xóm phía Đông (xóm Bàu Thị) lập thành thôn Dương Lâm I, hai xóm còn lại sát nhập thêm làng Cư Nhơn ở phía Tây lập thành thôn Dương Lâm II.

Theo những người dân ở đây cho biết thì những người đầu tiên vào đây khẩn hoang, lập làng đầu tiên là hai vị tiền hiền của hai tộc Thi và tộc Phạm. Dân làng tôn vinh hai vị này là “lưỡng tộc đồng tiền hiền”. Hiện nay hai vị tiền hiền này đang được thờ ở Đình.

Song song với việc lập làng, theo truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân, các đình chùa, dinh miếu cũng lần lượt được dựng lên để thờ các vị thần linh, và sau đó cũng thờ các vị tiền hiền được tôn vinh là có công với nước được vua sắc phong. Đình và chùa được xây dựng ở trung tâm làng. Đình là nơi thờ thần Thành hoàng và các vị thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, thần Lang lại nhị tướng quân, chùa là nơi thờ Quan Công. Ngoài ra, còn có một số dinh miếu được xây dựng như Miếu (thờ năm vị thần ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), Dinh Ông (thờ thần Cao Cát Quảng Độ Đại vương), Dinh Bà (thờ bà Diễn Phi Thiên Y A Na chúa Ngọc), Dinh Thái Giám (thờ Thái Giám Bạch Mã), miếu Tam vị ở xóm Bàu Thị (thờ ba vị Lưu Bị - Quan Công – Trương Phi).

Có thể nói dân làng Dương Lâm trong thời kỳ đầu khai khẩn đất hoang lập làng, dân số chưa phát triển nhưng đã quan tâm xây dựng nên một quần thể đình chùa dinh miếu đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân và đã để lại một di sản văn hóa gắn liền với cuộc sống của dân làng cho đến hôm nay, đó là đình Dương Lâm.

Ngôi đình hiện nay nguyên là một ngôi chùa thờ Quan Công. Trước đây là làng Dương Lâm cũng có một ngôi làng riêng được xây dựng cách đó khoảng 500m. Các bằng sắc, đồ thờ tự đều được để ở ngôi đình cũ này. Cách mạng T8 thành công, ngôi đình cũ Dương Lâm được dùng làm nơi hội họp của nhân dân do đó tất cả các lư hương, đồ thờ tự, bằng sắc của đình đều được đưa sang ngôi chùa và từ đó dân làng dùng ngôi chùa làm Đình làng Dương Lâm và tên gọi chùa từ đây trở thành đình Dương Lâm.

Đình được xây dựng từ lâu, bằng chứng là hai lần tu sửa đã được ghi trên xà cò và thanh trính của đình là: “Hoàng triều Tự Đức thập cửu niên tuế thứ Bính Dần thất ngoạt sơ cát thời bổn xã thôn đồng tu tạo linh tự tùng tiền phụng sự”. 

Tạm dịch là “Giờ tốt, tháng bảy, năm Bính Dần triều vua Tự Đức thứ 19 (1866), bổn xã thôn cùng tu tạo ngôi chùa linh thiêng này để phụng sự như trước.

Và “Duy Tân Canh Tuất niên lục ngoạt thập ngũ nhựt cát thời bổn xã thôn đồng tu bổ”

Tạm dịch là Giờ tốt, ngày 15 tháng 6 năm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân (1910), Bổn xã thôn cùng tu bổ.

Như vậy, Đình Dương Lâm kể từ lần tu tạo đầu tiên đến nay đã 138 năm. Hằng năm dân làng tổ chức lễ hội vào các ngày:

- Tết Nguyên Đán cầu cho năm mới được “Bình an, khang khái, phúc lộc phong vinh”

- Lễ giỗ tiền hiền vào ngày 14/4 âm lịch hằng năm.

- Lễ chạp mả tiền hiền vào ngày 7/11 âm lịch hằng năm. 

Những ngày lễ này được đông đảo nhân dân đến tham gia với lòng thành kính hướng về cội nguồn, ăn quả nhở kẻ trồng cây.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháo, đình là nơi cán bộ, dân quân du kích và bộ đội làm nơi trú quân và hoạt động cách mạng. Đặc biệt trong trận đánh ngày 24/1/1969 tức ngày 9 tháng giêng năm Kỷ Dậu, bộ đội và du kích ta trụ bám tại đây đánh trả nhiều trận tiến công của địch từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Địch bị diệt hàng chục tên cả Mỹ lẫn Ngụy. Chúng phải đem máy bay ném bom xuống trận địa. Bom bị lạc làm cho dân thường gần đấy chết một lúc 28 người, phần lớn là đàn bà và trẻ nhỏ. Ngày nay vẫn còn ngôi mộ chôn chung và được xem là chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ ở địa phương.  

IV. Loại hình di tích:

Căn cứ vào Điều 28 luật Di sản văn hóa và Điều 13 Nghị định số 92/2002/NC-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Di sản văn hóa, Đình Dương Lâm thuộc loại hình di tích kiến trúc – nghệ thuật.

V. Khảo tả di tích:

Đình Dương Lâm tọa lạc trên gò cao tại trung tâm làng Dương Lâm, cách chợ Túy Loan về hướng đông hơn 1 km, cách quốc lộ 604 về hướng Đông Bắc khoảng 800m, có diện tích khoảng 2500m2 chung quanh có dân cư bao bọc. Đình được xây dựng theo kiểu kiến trúc truyền thống. Đặc biệt đình không trổ cửa theo mái trước như thông thường mà lại trổ cửa cùng hướng dọc theo đòn đông. Cửa đình hướng về phía Tây cùng trục Đông – Tây với đòn đông của đình.

Đình có diện tích 9,36mx9,8m. Vật liệu xây dựng đình là gỗ mít rừng, kiền kiền, sến, vôi và gạch chăm, mái lợp ngói âm dương. Đình được xây dựng theo lối kiến trúc ba gian, bốn mái với bốn cột chính cao 3m, đường kính 28cm, vì kèo nóc được liên kết theo kiểu giao nguyễn đỡ đòn đông (Hai vì kèo bắt chéo). Một trụ trốn (ấp quả) ăn mộng vào thanh trính với hai lá quả giang ra đỡ hai vì kèo giao nguyên này. Từ cột chính, 3 thanh kèo nhì, kèo dấm, kèo quyết ăn mộng vào cột này xòe ra rẽ quạt nối với cột cửa, cột dấm và cột quyết. Từ hàng cột cửa, những thanh kèo uốn cong được nối với hàng cột hiên (dân địa phương gọi là cây ngạo hay cây ngõng) đỡ lấy mái hiên. Các thanh trính, thanh kèo đều được chạm trổ tỉ mỉ, hình đầu rồng, hình mây cuộn, hoa lá rất đẹp. Các hàng cột đều được kê trên chân đá chân đá tảng hình quả bí. Bộ cửa bàn khoa gồm 12 cánh cửa vẫn còn ngạch cửa ở phía dưới. Bên trong gồm 3 gian thờ, gian giữa được xây khám, hai bên ngách có đôi câu đối: “Trung can huyền nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn”. Có nghĩa là “Lòng trung can che mờ cả mặt trăng, mặt trời/Nghĩ khí bao trùm cả trời đất”. Theo các cụ già làng thì khám này là nơi thờ Quan Công. Hai gian bên thờ: “tiền hiền và các vị tiền nhân chư phái tộc”.

Trang trí bên ngoài phía trên nóc có đắp tượng Quan Công trong khám nhỏ tượng trưng, dãy dưới được tráng trí theo lối cuốn thư với hình ảnh long, ly, quy, phượng chạy suốt mặt ngang của mái. Bốn hàng hiên với bốn câu đối. Hai câu đối ở hai cột giữa là: “Vạn niên mặc tướng đại linh cựu/Bách đợi trường tồn chế độ tân”. Hai câu đối hai bên là “Nguyên thủy tài bồi tăng địa tráng/Dương sơn tú mạch thị sơn cao”.

Phía trước đình là khoảng sân rộng 10,16m x 12,2m được bao quanh bởi một hàng rào gạch xây thấp. Trước sân là tam quan đình nhưng bức bình phong được xây kín cửa chính chỉ còn lối đi hai bên. Bốn trụ biểu xây cao với hai trụ, giữa đỉnh đắp nổi hoa sen. Hai trụ hai bên đắp nổi hình hai con lân với dáng điều dữ tợn. Bình phong được tạo hình cuốn thư, mặt trước đắp nổi hình con hổ đang vồ mồi, mặt sau là hình cá chép hóa rồng.

Trên hai cửa phụ hai bên của tam quan được trang trí hình ảnh loan phụng hòa minh. Nhìn chung, ngôi đình đầy vẻ rêu phong và cổ kính.

VI. Các hiện vật còn lại:

Các hiện vật liên quan đến di tích đã bị mất hết trong kháng chiến chống Pháp.

VII. Các hình thức sinh hoạt dân gian, lễ hội:

Tại đình làng hàng năm vào Tết nguyên đán thường tổ chức hội vui chơi từ chiều mồng một cho đến mồng ba, mồng bốn Tết. Đặc biệt là trò chơi đánh bài chòi lôi cuốn đủ mọi tầng lớp nhân dân tham gia.

VIII. Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật:

Đình Dương Lâm là một ngôi đình cổ còn tương đối nguyên vẹn với lối kiến trúc truyền thống ba gian bốn mái. Với những đường nét chạm khắc tinh tế, những hình ảnh đắp nổi trang nhã tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho ngôi đình đã chứng tỏ bàn tay khéo léo sáng tạo của nhân dân ta trong quá trình khẩn hoang lập làng, xây dựng đời sống vật chất và tinh thần tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mình. Đình Dương Lâm xứng đáng là một di tích lịch sử văn hóa cần được bảo tồn và phát huy. Ngoài ra, đình Dương Lâm còn gắn liền với một số sự kiện lịch sử cách mạng của địa phương. Nơi đây, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là nới cán bộ, dân quân du kích và bộ đội làm điểm trú quân và hoạt động cách mạng. Đặc biệt trận đánh ngày 24/1/1969 tức ngày 9 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, bộ đội và du kích ta bám trụ tại đây đánh trả nhiều trận tiền công của địch từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều, diệt hàng chục tên cả Mỹ lẫn Ngụy làm cho địch hoang mang khiếp sợ và nhân dân phấn khởi tin tưởng vào Cách mạng.

IX. Tình trạng bảo quản:

Đình Dương Lâm được trùng tu, tu sửa lớn 2 lần. Lần thức nhất vào năm Tự Đức thứ XIX (1866), lần thứ hai vào năm Canh Tuất niên hiệu Duy Tân (1910). Từ đó đến nay đình chỉ có một lần sửa chữa nhỏ do mái ngói bị dột. Hiện nay, đình vẫn trong tình trạng bảo quản khá tốt.

X. Các phương án bảo vệ di tích:

Đình Dương Lâm có hàng rào là những bụi cây mọc tự nhiên nên cần phải được xây dựng hàng rào bao quanh để tránh tình trạng bị lấn chiếm khi quá trình đô thị hóa xảy ra. Nên phát hoang cây cỏ xung quanh, cải tạo lại cảnh quan, làm lại những cánh cửa bị hỏng, có biện pháp chống mối mọt cho ngôi đình.

XI. Căn cứ cơ sở pháp lý để bảo vệ di tích:

Căn cứ vào các điều 28, 29, 30 luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001 và điều 13,14, 15 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa; xuất phát từ giá trị kiến trúc – nghệ thuật của Đình Dương Lâm cùng với đơn đề nghị của nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Hòa Phong, Bảo tàng Đà Nẵng kính đề nghị Sở Văn hóa – Thông tin trình Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định công nhận di tích đình Dương Lâm là di tích kiến trúc – nghệ thuật.


ĐÌNH DƯƠNG LÂM

Địa điểm:

Đình Dương Lâm hiện thuộc thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 19km. Làng Dương Lâm phía Đông giáp làng Bồ Bản và Cẩm Toại, tây giáp làng An Tân, nam giáp làng Cẩm Toại, bắc giáp làng Túy Loan. Đình Dương Lâm cách chợ Tuý Loan về hướng Đông hơn 1km, cách đường ĐT 604 về hướng Bắc khoảng 800m.

Lịch sử:

Làng Dương Lâm hình thành cách đây trên 500 năm vào khoảng cuối thế kỷ XIV thời triều Trần – Lê. Thuỷ thời là các vị tiền nhân của tộc Thi và tộc Phạm đến định cư, khai phá hoang sơ tạo nên điền thổ canh tác, dân làng tôn hai vị này là ‘lưỡng tộc đồng tiền hiền”. Trước tháng 8/1945,  làng có tên là Dương Lam, thuộc xã Dương Sơn, đến triều Bảo Đại (1925 – 1945) mới đổi tên gọi thành Dương Lâm. Sau năm 1975, làng được tách ra 1/3 làng thành thôn Dương Lâm 1 (xóm Bàu Thị) và phần còn lại sáp nhập với làng Cư Nhơn cũ thành thôn Dương Lâm 2.

Song song với việc lập làng xã, nhân dân làng Dương Lâm lần lược xây dựng các đình, chùa, dinh, miếu… thờ tiền hiền, thờ thần Thành Hoàng bổn xứ, thờ các thần linh được tôn vinh là có công với nước được vua sắc phong. Đình làng Dương Lâm xây dựng từ năm nào không rõ, do chiến tranh mất hết giấy tờ, sắc, bằng, không còn tư liệu tham khảo và nghiên cứu. Nhưng có hai lần sửa chữa có ghi trên xà gồ và thanh trính: “Hoàng triều Tự Đức thập cửu niên, tuế thứ Bính Dần thất nguyệt sơ cát thời bổn xã thôn đồng tu tạo linh tự tùng tiền phụng sự” (Giờ tốt, tháng bảy, năm Bính Dần triều vua Tự Đức thứ 19 (1866), bổn xã thôn cùng tu tạo ngôi chùa linh thiêng này để phụng sự như trước). Và lần nữa ghi “Duy Tân Canh Tuất niên lục nguyệt thập ngũ nhật cát thời bổn xã thôn đồng tu bổ” (Giờ tốt, ngày 15 tháng 6 năm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân (1910), bổn xã thôn cùng tu bổ). Như vậy, tính từ lần sửa chữa năm Tự Đức - Bính Dần đến nay là 137 năm. Song không rõ đây là lần sửa chữa thứ mấy? Nhưng các cụ bô lão nói: Ít ra đình này phải có số tuổi xây dựng trên 200 năm.

 Năm 2007, do các cấu kiện gỗ của đình đã bị mục ruỗng, hư nát nên Nhà nước đã đầu tư kinh phí dựng lại theo đúng mô hình của ngôi đình cũ. Năm 2010 – 2011, đình tiếp tục được tôn tạo với việc xây dựng các công trình ngoại vi tạo thành một không gian kiến trúc – văn hóa đẹp, uy ngiêm.

Khảo tả

Đình Dương Lâm toạ lạc trên một gò cao có diện tích 0.25 ha, chung quanh cư dân đông đúc. Đình kiến trúc theo một kiểu duy nhất trong tất cả đình làng ở Đà Nẵng, đó là đình không trổ cửa theo mái trước tam gian như thông thường mà trổ cửa cùng hướng dọc theo đòn đông, bít đốc quay ra đằng trước, hai chái trở thành hai mái chính sau và trước của ngôi đình.  Thêm một điểm khác biệt của đình Dương Lâm là không có sự chênh lệch rõ rệt về kích thước giữa các chiều ngang, dọc mà mặt bằng gần như là một hình vuông, mỗi bề khoảng 9m, không kể phần hiên. Bởi vậy, thoáng nhìn nó giống kiểu kiến trúc nhà tứ trụ rất phổ biến ở đình làng Nam Bộ.

Vật liệu xây dựng đình gồm gỗ mít rừng, kiền kiền, sến… mái lợp ngói âm dương; kiến trúc theo lối một gian hai chái với bốn cột chính cao 3m, đường kính 28 cm, vì kèo nóc được liên kết theo kiểu giao nguyên đỡ đòn công. Một trụ trốn (ấp quả) ăn mộng vào thanh trính với hai lá dang ra đỡ hai vì kèo giao nguyên này. Từ cột chính, ba thanh kèo nhì, kèo đấm, kèo quyết ăn mộng vào cột này xòa hình rẻ quạt nối với cột cửa, cột đấm và cột quyết. Các đầu kèo và đầu trính đều có chạm trổ tỉ mỉ, tinh xảo với hình đầu rồng, mây cuộn, hoa lá và chữ Thọ. 

Bên trong đình bố trí 3 gian thờ: gian giữa xây khám thờ, chính giữa khám đề chữ THÁNH thờ Quan công, hai bên khám có đôi câu đối:

Trung can huyền nhật nguyệt

Nghĩa khí quán càn khôn

(Lòng trung can che mờ cả mặt trăng, mặt trời

Nghĩa khí bao trùm cả trời đất)

Trang trí bên ngoài phía trên dãy nóc có đắp tượng Quan Công trong khám nhỏ tượng trưng, dãy dưới được trang trí theo lối cuốn thư với hình ảnh tứ linh Long, Ly, Quy, Phụng. Bốn cột hiên có 4 câu đối, gian giữa có 2 câu:

Dương thiên tổ đức khai nguyên huân điền khoáng

Lâm địa tông công kiến nghiệp thế vinh giáng

(Trời xanh ấy là đức khai nguồn của tổ tiên làm cho đất đai rộng rãi, mênh mông

Đất rộng ấy là công xây dựng của tổ tông khiến đời sau hương được sự vinh hoa)

Hai câu đối hai bên: 

Nguyên thủy tài bồi tăng địa tráng

Dương sơn tú mạch thị sơn cao

(Khai nguồn bồi đắp, đất ấy thêm tráng lệ

Núi xanh tươi, mạch nguồn đẹp đẽ, trông càng cao)

Trước sân là tam quan đình, bốn trụ biểu xây cao với hai trụ giữa đỉnh đắp nổi hoa sen, hai trụ hai bên đắp nổi hình hai con lân. Bình phong được tạo hình cuốn thư, mặt trước được đắp nổi hình con hổ, mặt sau là hình ảnh cá chép hóa rồng.

Lễ hội

Hằng năm đình làng có các ngày lễ lớn như: 

- Lễ tế Minh niên: Vào sáng ngày Mồng một tết Nguyên Đán, cầu sang năm mới được bình an khang thái, phước lộc phong dinh, tiếp theo đó là tổ chức hội vui chơi từ chiều ngày Mồng một đến Mồng bốn tết. Sôi nổi, hấp dẫn, thu hút đông đảo người dân nhất là hội đánh Bài Chòi, đánh Bài Chòi là một trò chơi xuân có tổ chức, có thể lệ, quy ước.

- Lễ giỗ tiền hiền vào ngày 14 tháng 4 âm lịch và lễ chạp mã tiền hiền vào ngày Mồng 7 tháng 11 âm lịch hàng năm. Những ngày đại lễ này được đông đảo dân làng từ các bậc viên hào chức sắc, bô lão đến thứ dân đều tham gia với thái độ trang nghiêm thành kính, hướng về cội nguồn “ăn quả nhớ người trồng cây”.

Giờ mở cửa

Cả ngày

Vé tham quan

Miễn phí

Liên hệ

Liên hệ: UBND xã Hòa Vang
Website:  
Phương tiện di chuyển: Xe gắn máy, ô tô

Lượt tham quan

0

THƯ VIỆN HIỆN VẬT

Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm

0 hiện vật được trưng bày