Quay về trang chủ

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành

★★★★★

/5 ( đánh giá)

Ẩn mình tại thôn Hội Phước, ngôi mộ cổ của Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành là một kiệt tác kiến trúc mộ táng bằng đá tổ ong cực kỳ hiếm hoi còn sót lại. Ông là hậu duệ đời thứ 5 của dòng họ Mạc di trú vào Đàng Trong, một sĩ phu có nghĩa cử cao đẹp từng giúp đỡ Nguyễn Ánh (vua Gia Long) lánh nạn thời Tây Sơn và được nhà vua sắc phong danh hiệu cao quý. Tọa lạc theo thế đất phong thủy "tiền án hậu chẫm" đầy linh thiêng, ngôi mộ cổ không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là cánh cửa mở ra những giai thoại lịch sử đầy thăng trầm của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng.

Tham quan ảo 360°

Thông tin địa điểm

Địa chỉ: Đồng Lăng, xã Hòa Vang, Đà Nẵng, Việt Nam

Giới thiệu

MỘ CỔ BÌNH HƯƠNG XỬ SĨ MẠC TRƯỜNG THÀNH

(xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng)

1. Tên gọi di tích

a) Tên gọi chính thức

- Mộ Cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành 

(Được đặt theo phong hiệu của chủ nhân ngôi mộ lúc sinh thời)

b) Các tên gọi khác:

- Mộ cổ Hội Vực

(Được gọi theo tên địa phương nơi mộ tọa lạc - làng Hội Vực, nay là Thôn Hội Phước, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang)

- Mộ cổ họ Mạc

(Được gọi theo họ của chủ nhân ngôi mộ)

2. Địa điểm và đường đến di tích

a) Địa điểm di tích

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành tọa lạc tại thôn Hội Phước, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, cách Trung tâm Hành chính Đà Nẵng khoảng 22km về hướng Tây – Nam. Mộ có vị trí tọa độ tại 15°59'49.1"N 108°04'39.4"E (định dạng thập phân: 15.996972, 108.077611)

b) Đường đi đến di tích

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành nằm cách trung tâm hành chính của thành phố Đà Nẵng 17,8 km về phía Tây – Nam (theo đường chim bay) và 21,9km theo đường bộ

Từ trung tâm thành phố theo nhiều tuyến đường nội thị khác nhau đi đến cầu vượt Hòa Cầm. Từ đây theo đường quốc lộ 14B thẳng lên khoảng 6.6 km bắt gặp nút giao thông cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, tiếp tục rẽ trái theo đường tỉnh lộ 604 (đường Quảng Xương) khoảng 9.4 km là đến chợ Hoà Phú. Tại đây rẽ trái đi thẳng khoảng 2km theo đường nhựa liên xã đến cầu Hội Phước, tiếp tục rẽ phải đi thẳng khoảng 1,3km theo đường bê tông đến nhà văn hóa thôn Hội Phước. Mộ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành nằm phía sau nhà văn hóa thôn Hội Phước (cách khoảng 150m).

3. Phân loại di tích

Căn cứ vào kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích, căn cứ theo quy định tại Điều 11, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010, di tích Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành thuộc loại hình di tích Kiến trúc nghệ thuật.

4. Sự kiện nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích

Làng Hội Vực nằm ở phía đông chân núi Bà Nà, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 22km về phía Tây – Nam theo đường bộ và 18km theo đường chim bay. Theo các cụ cao niên trong làng, tên gọi Hội Vực xuất phát từ vị trí của làng bởi đây là nơi hội tụ của hai dòng nước sâu (vực nghĩa là chỗ nước sâu), một tả ngạn từ núi Bà Nà xuôi xuống, một hữu ngạn từ nguồn sông Lỗ Đông nơi chân núi Kiền Kiền đổ ra. Ngày nay, làng Hội Vực sáp nhập với làng Phước Giang phía dưới thành thôn Hội Phước, thuộc xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Tại làng Hội Vực hiện nay, có một ngôi mộ cổ được phong hiệu “Bình hương xử sĩ” được vua Gia Long phong tặng. Chủ nhân của ngôi mộ cổ có tên húy là Mạc Trường Thành (chưa rõ năm sinh, năm mất) quê làng Hội Vực (nay thuộc thôn Hội Phước), ông là hậu duệ đời thứ 5 của dòng họ Mạc ở Bắc Hà di cư vào nơi đây . Theo tiến trình lịch sử và đối chiếu với gia phả các dòng tộc tại làng Hội Vực, vào khoảng cuối Thế kỷ XVII đầu Thế kỷ XVIII, nhà Mạc bị quân Lê - Trịnh tiêu diệt tại cứ địa cuối cùng ở Cao Bằng (năm 1677), con cháu hoàng thất và dòng họ Mạc phải thay tên đổi họ và di trú đi khắp nơi nhằm trốn tránh truy sát tru di của chúa Trịnh. Vào khoảng cuối thế kỷ XVII, có ba anh em người họ Mạc di cư vào Quảng Nam (xứ đàng trong) ẩn náu nhằm duy trì dòng tộc. Người anh cả khai làng lập ấp tại làng Hội Vực, hai người em vào Điện Bàn khai làng lập ấp tại xã Điện An và Điện Minh ngày nay .

Ngày nay, tại nhà thờ tộc Mạc, thôn Hội Phước, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, trên bài vị có ghi dòng chữ Hán - Nôm: 奉 為 先公 莫 族 第 五 世 祖 諱 長 成 之 位. (Phụng vị tiên công Mạc tộc đệ ngũ thế tổ húy Trường Thành chi vị).

 Trong văn tế có ghi: “Bình hương xữ sĩ Mạc quý công phong tặng linh phò dực bảo trung hưng chi thần”.

Trong Tộc phổ họ Mạc Như (làng Hội Vực) phụng biên năm Kỷ Dậu (?) bằng chữ Hán - Nôm có ghi: 顯 祖 考 平 鄉 處 士 莫 貴 公 諱 長 成 (第 伍 世). (Hiển tổ khảo, Bình hương xử sĩ Mạc quý công, húy Trường Thành (đời thứ năm).

Như vậy, có thể thấy chủ nhân ngôi mộ là ông Mạc Trường Thành (hậu duệ đời thứ năm của gia tộc họ Mạc di cư từ Bắc Hà vào Quảng Nam) có công giúp Nguyễn Phúc Ánh và được phong tước hiệu “Bình hương xử sĩ”, quê làng Hội Vực, tổng Phước Tường, huyện Hòa Vang, Phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng).

Lúc sinh thời ngài “Bình hương xử sĩ” Mạc Trường Thành đã từng có công giúp vua Gia Long khi vua đến vùng đất Đà Nẵng lẫn trốn quân đội Tây Sơn và sau đó phản công đánh trả để giành lại ngai vàng... Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong tặng ông phong hiệu “Bình hương xử sĩ”. Việc gặp gỡ và giúp đỡ vua Gia Long của ngài “Bình hương xử sĩ” có thể diễn ra ở hai giai đoạn khi vua Gia Long có mặt tại Đà Nẵng. Từ khi rời kinh đô Phú Xuân (1774) cho đến lúc trở lại và lên ngôi vua (1802) vua Gia Long đã có cuộc hành trình qua nhiều vùng đất, gặp được nhiều quý nhân giúp sức, ông có hai giai đoạn gắn với mảnh đất Đà Nẵng, đó là giai đoạn khi mới bắt đầu rời Phú Xuân vào Đà Nẵng (từ cuối năm 1774 đến đầu năm 1775) và giai đoạn khi thế lực lớn mạnh trở lại phản công quân Tây Sơn và giành lại ngai vàng (1792 - 1802).

Giai đoạn thứ nhất vua Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) ở Đà Nẵng (từ cuối năm 1774 đến đầu năm 1775)

Vào cuối TK XVIII tình hình Đàng Trong có nhiều biến động, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần  (1765 – 1777) quyền thần Trương Phúc Loan lấn lướt chúa Nguyễn, gây sự bất mãn trong dân chúng. Bấy giờ lòng người còn oán giận Trương Phước Loan chuyên quyền nên gây ra biến cố . Nhiều cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra làm lung lay chính quyền của Chúa Nguyễn. Nǎm Tân Mão (1771), 3 anh em Tây Sơn nổi dậy với khẩu hiệu: "Lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan, phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương". Quân Tây Sơn thường lấy của những nhà giàu rồi phân phát cho dân nghèo, do đó được dân chúng các nơi theo về.

Trong khi đó tại Đàng Ngoài, nhận thấy tình hình Đàng Trong bất ổn, chúa Trịnh Sâm cử Hoàng Ngũ Phúc  tấn công Đàng Trong. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chép: “Tháng 5, mùa hạ (1774). Trịnh Sâm sai tướng là Hoàng Ngũ Phúc làm thống tướng, đem quân các đạo vào xâm lấn trong Nam .” Tình thế lúc bấy giờ, Chúa Nguyễn đã rơi vào thế gọng kìm bị kẻ địch tấn công ở hai đầu.

Ngày 29 tháng 12 năm 1774, chúa Duệ Tông (Nguyễn Phúc Thuần) cùng gia quyến, các quan tùng vong và thân binh hơn 100 người xuống thuyền ra cửa Tư Dung . Nguyễn Phước Ánh bây giờ 14 tuổi, là người sẽ đóng vai trò quyết định trong cuộc tranh giành giữa Nguyễn Trinh và Tây Sơn sau này . Đoàn quân của Chúa Nguyễn xuất phát từ cửa Tư Dung (Huế) vào cuối tháng 12 năm 1774 và đến Quảng Nam (địa phận Đà Nẵng ngày nay) vào đầu năm 1775. Đại Nam thực lục chép:

“Ất mùi, năm thứ 10 [1775] (Lê Cảnh Hưng năm 36, Thanh Càn Long năm 40), mùa xuân, tháng giêng, chúa dừng chân ở Giá Tân [Bến Giá] (thuộc tỉnh Quảng Nam), triệu Tả quân Nguyễn Cửu Dật đến hành tại .”

Khi đến Bến Giá (Giá Tân) tại Quảng Nam, Chúa vào nhà Tả quân Nguyễn Cửu Dật . 

Ngày nay tại địa phận xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang có một địa điểm gọi là Hành dinh Bến Giá, nơi được cho là vị trí trú ngụ của Chúa Nguyễn khi vào Quảng  Nam. Theo Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Phú mô tả: “Do có vị trí hiểm yếu và thuận lợi cả đường thuỷ lẫn đường bộ nên dưới thời các chúa Nguyễn, nguồn Cu Đê (trong đó có các làng xã thuộc Hoà Bắc hiện nay) được các chúa Nguyễn xem là căn cứ địa quan trọng, là “chốn dung thân” của chúa Nguyễn mỗi khi quân của vua Lê, chúa Trịnh từ Đàng Ngoài tiến công vào kinh đô Huế. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên từng cho xây dựng lũy Cu Đê và xây Hành dinh Bến Giá tại Trường Định (giáp với Nam Định) để Chúa hoặc Đông cung thái tử ở. Vì thế nên trong dân gian lúc bấy giờ có câu: “Chúa ở Phú Xuân, Thái tử ở Quảng Nam ”

Sau khi vào Quảng Nam, Chúa nghe lời Nguyễn Cửu Dật cùng các quần thần khuyên lập Hoàng tôn Dương (Nguyễn Phúc Dương ) làm Thế tử, sai trấn vũ Quảng Nam, tổng lý các việc trong ngoài . Đại Nam thực lục chép:

“Cửu Dật cùng bọn tụng quan là Ngoại tả Tôn Thất Tĩnh (con Tôn Thất Tứ, bấy giờ gọi là Quận công), Chưởng dinh Tôn Thất Kính, Chưởng cơ Tôn Thất Chí, Nội đội trưởng Nguyễn Cửu Thận (con Nguyễn Cửu Pháp) và Đỗ Thanh Nhân, Đội trưởng Trương Phước Dĩnh, dâng lời rằng: “Hoàng tôn Dương vốn có đức hiền, trong ngoài đều trông mong, xin sớm đặt làm trừ nhị để mưu đồ cuộc khôi phục”. Chúa bèn lập hoàng tôn Dương làm thế tử, gọi là Đông cung, cho Trấn phủ Quảng Nam, tổng lý các công việc trong ngoài, và sai các tướng kiểm duyệt quân thủy bộ làm kế tiến thủ” 

Chúa Nguyễn ở lại đây được vài ngày thì quân Tây Sơn đem thủy binh ra cửa biển Hiệp Hòa, bộ binh theo ven núi ra sông Thu Bồn, hai đạo binh đánh đến, Nguyễn Cửu Dật chống đánh thua chạy ra Trà Sơn, Đông cung lui về Cu Đê, Chúa đi Liên Chiểu.  Nói về sự kiến quân Tây Sơn vây đánh chúa Nguyễn tại Quảng Nam, Đại Nam thực lục chép rằng:

“Chúa ở được vài ngày thì giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc sai Tập Đình và Lý Tài đem thủy binh ra cửa biển Hiệp Hòa (tức cửa Đại áp ngày nay), bộ binh của Nhạc thì theo ven núi ra sông Thu Bồn, hai đạo đánh đến. Nguyễn Cửu Dật đánh không lợi, chạy ra Trà Sơn. Đông cung lùi về Cu Đê (tên đất). Chúa đi Liên Chử (tên đất), sai quan hầu truyền bảo Đông cung rằng : “Hiện nay đằng trước có giặc Tây Sơn, đằng sau có quân họ Trịnh, mà số quân tinh giỏi của ta không đầy một nghìn, lương thảo thiếu thốn. Vả lại Cu Đê là đất hẹp hòi, quân cô thế không có cứu viện, mà cho quân ở Gia Định thì đã lâu không tin tức gì. Đã nghị cho Nguyễn Cửu Thận là Hữu quân đại đô đốc cùng ngươi lưu giữ nơi này, còn Nguyễn Cửu Dật thì chỉnh bị chiến thuyền hộ giá đi Gia Định, thu quân về đánh Phú Yên, Quy Nhơn để chia thế giặc. Quân Cu Đê sẽ nhân đó mà hợp sức tiến đánh. Đó là cái kế đánh xa để cứu gần vậy”. Đông cung vâng mệnh ở lại Cu Đê. ”

Đối chiếu với Khâm đinh Việt sử Thông giám cương mục chép về sự kiện này như sau: “Tháng 2, Nguyễn Văn Nhạc, giặc Tây Sơn, cướp xứ Quảng Nam. Đến nay, Nhạc (Nguyễn Nhạc) sai đồ đảng là Tập Đình (tên người nhà Thanh) đem quân theo đường biển vào cửa biển Đại Chiêm, Nhạc đem quân đi tắt ra nguồn Thu Bồn, đến cướp Quảng Nam. Bọn Nguyễn Cửu Du, tướng giữ Quảng Nam, bị thua trận. Lúc ấy, xa giá Huệ Tông Hiếu Định hoàng đế ta chạy vào Gia Định, lập Mục Vương làm thái tử xưng là đông cung  ở lại trấn phủ Quảng Nam, đóng ở xã Câu Đê, để chống cự lại. Văn Nhạc định mưu dựa vào danh nghĩa để lừa dối dân chúng, bèn sai bọn Lý Tài (người nhà Thanh) rước đông cung về Hội An” .

Lúc bấy giờ ở chúa Trịnh ở Đàng Ngoài sai quân tiến vào Quảng Nam. “Tháng 2, Trịnh Sâm từ Hà Trung trở về, sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân lấn Quảng Nam ”

Ngày 19 tháng 2, chúa Nguyễn xuống thuyền đi Gia Định, chúa và công tôn Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Thế tổ Cao hoàng sau này) đi một thuyền, theo sau là thuyền chở các quan và người tùy tùng.  Đoàn thuyền từ Quảng Nam vào Gia Định của Chúa Nguyễn không may gặp nạn, Đại Nam thực lục chép: “Ngày Canh dần, thuyền chúa đi biển, gặp gió to, thuyền đi theo của Tôn Thất Kính và Nguyễn Cửu Dật đều đắm mất. Bấy giờ Thế tổ Cao hoàng đế (tức vua Gia Long) 14 tuổi cùng chúa ngồi một thuyền, chỉ thuyền này không việc gì” .

Sau khi cùng chúa Nguyễn vào đến Quảng Nam (địa phận Đà Nẵng ngày nay) thì trong các nguồn sử liệu mà chúng tôi tham khảo được không thấy đề cấp đến vị trí cụ thể mà Nguyễn (Phúc) Ánh (vua Gia Long) lánh nạn ở giai đoạn này. Thời gian mà Nguyễn Phúc Ánh lánh nạn tại Đà Nẵng - Quảng Nam là từ đầu năm 1775 đến cuối tháng 2 cùng năm. Như vậy, giai đoạn thứ nhất, Nguyễn (Phúc) Ánh lánh nạn tại địa phận Đà Nẵng gần hai tháng sau đó rời Đà Nẵng vào Gia Định chuẩn bị binh lực cho những lần trở lại đánh quân Tây Sơn về sau.

Giai đoạn thứ hai của Nguyễn (Phúc) Ánh ở địa phận Đà Nẵng

Giai đoạn thử hai của Nguyễn (Phúc) Ánh ở Đà Nẵng là khi thế lực đã lớn mạnh, trở lại phản công quân Tây Sơn và giành lại ngai vàng (1792 – 1802).

Sau cái chết của Định Vương (Nguyễn Phúc Thuần) và Hoàng tôn Dương dưới tay Tây Sơn vào năm 1777, cháu ruột của Định vương Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Phúc Ánh đã thu thập binh mã cùng với những bầy tôi trung thành khác, dấy binh ở Long Xuyên, mưu đồ khôi phục cơ nghiệp cũ của cha ông. Từ năm 1777 đến 1873, Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) có đôi lần vùng lên nhưng hầu như không thể nào chống chọi được với lực lượng hùng mạnh của Tây Sơn lúc bấy giờ. Nhưng từ sau năm 1783 trở đi thì phe của Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) ngày càng mạnh . 

Tháng 4 âm lịch năm 1790, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân mang 6.000 quân thủy bộ ra đánh chiếm được Phan Rí và Bình Thuận 

Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là Cảnh Thịnh. Quang Toản còn quá nhỏ  (9 tuổi) nên không đủ sức lãnh đạo, khiến cho Tây Sơn bắt đầu khủng hoảng và chia rẽ . Cảnh Thịnh sau khi lên ngôi vì nhỏ tuổi, không có kinh nghiệm cai quản triều chính nên đã bị cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền thâu tóm triều chính. Nội bộ Tây Sơn cũng từ đó mà lục đục, suy yếu, các tướng lĩnh tranh chấp quyền hành giết hại lẫn nhau .

Sau khi vua Quang Trung mất, kể từ mùa hè năm 1979, cứ đến khi gió Nồm (gió Đông Nam) bắt đầu thổi thì Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) lại mang thủy quân ra đánh phá các tỉnh duyên hải thuộc quyền kiểm soát của Tây Sơn (trong đó có vùng Quảng Nam – Đà Nẵng), tạo nên một dạng chiến tranh dựa vào sự thuận lợi của thời tiết mà dân gian gọi là “giặc mùa” . Lúc bấy giờ, lòng dân đã khá mâu thuẫn trong việc ủng hộ bên nào - phe Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) hay phe Tây Sơn. Một bộ phận dân chúng còn trung thành với chúa Nguyễn rất mong chủ cũ sớm trở về. Trong dân gian lúc bấy giờ có câu ca dao lục bát:

Lạy trời cho chóng gió Nồm

Để thuyền Chúa Nguyễn dong buồm ra khơi 

Tuy nhiên một bộ phận dân chúng khác thì vẫn ủng hộ nhà Tây Sơn, thể hiện qua câu ca dao:

"Lạy trời cho cả gió lên

Cho cờ vua Định  phất trên kinh thành"

Nói về vấn đề này, cố GS Trần Quốc Vượng từng trưng dẫn cùng lúc 2 câu ca dao nói lên lòng dân lúc đó, với một bên dân ủng hộ Nguyễn Huệ (Lạy trời cho cả gió lên/ Cho cờ vua (Bình) Định phất trên kinh thành), còn bên kia lại ủng hộ Nguyễn Ánh (Lạy trời cho cả gió Nồm/ Cho thuyền chúa Nguyễn thắng buồm thẳng ra), ông cho rằng “Đừng nên chỉ suy diễn lòng dân theo chủ quan ‘bác học’, mà nhà làm sử rất nên tham khảo Folklore (văn học dân gian; truyền thống dân gian), nhất là Folklore cổ-cận-dân gian” 

Tháng 5 năm 1797, theo lệ thường (khi gió Nồm bắt đầu thổi), Nguyễn Vương cùng con là Đông cung Cảnh  (Hoàng tử Cảnh) kéo thủy quân ra đánh Quy Nhơn, mở đầu trận “giặc mùa” hằng năm. Tuy Nguyễn Vương đánh thắng thủy quân Tây Sơn ở đầm Thị Nại  nhưng không làm gì được trên bộ, nên đổi mục tiêu, đem quân ra đánh Quảng Nam, là nơi ít phòng ngự hơn 

Khi tiền vào Đà Nẵng, hạm đội của Nguyễn Vương có hơn 100 chiếc thuyền đủ loại, trong đó có cả những tàu chiến bọc đồng, đóng theo kiểu Tây phương, trang bị súng đại bác cỡ lớn và do các sĩ quan Pháp chỉ huy. Thủy quân Nguyễn Vương xong vào vịnh Đà Nẵng, đánh phá rất hăng, dùng hỏa công đốt cháy nhiều thuyền bè khiến quân Tây Sơn thiệt hai nặng, đầu hàng hàng loạt. 

Lấy được Cửa Hàn, Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) sai Nguyễn Văn Trương đổ quân lên giữ Câu (Cu) Đê, đề phòng quân Tây Sơn từ Huế vào phản công. Trong khi đó, Đông cung Cảnh (Hoàng tử Cảnh) dẫn một cánh thủy quân khác vào cửa Đại Chiêm, ngược sông Thu Bồn, tấn công và đại thắng ở La Qua, chiếm được sinh trấn Quảng Nam, đồng thời Võ Tánh dẫn bộ binh tiến ra Đà Nẵng, đóng giữ ở Hà Thân. Với trận này, phe Nguyễn Vương hoàn toàn làm chủ vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng đến hết mùa gió Nồm thì phải rút về Nam vì không thuận tiện cho việc tiếp tế quân lương nữa .

Tháng 3 năm 1801, thủy quân của Nguyễn Vương ra đánh Quảng Nam, Quảng Ngãi, đây được xem là trận “giặc mùa” cuối cùng, vì sau trận này nhà Tây Sơn hoàn toàn bị tiêu diệt.

Tháng 4 năm 1801, quân Nguyễn tiến đánh Đà Nẵng, chiếm được nhiều đồn trại, tịch thu và đốt nhiều quân trang, quân dụng của quân Tây Sơn. Đây mới chỉ là trận mở đầu, tạo tiền đề cho đại quân Nguyễn Vương ra đánh Phú Xuân. Lúc bấy giờ quân Tây Sơn đang dồn lực lượng tấn công Quy Nhơn, thành Phú Xuân coi như bỏ ngỏ. Nguyễn Vương đem 15.000 quân, 16 tàu chiến cỡ lớn và hàng trăm chiến thuyền khác ra hợp cùng quân Nguyễn Văn Trương, tạo nên một lực lượng thủy bộ đông đảo chưa từng có ở Đà Nẵng. Với một lực lượng đông đảo như thế và dùng Đà Nẵng làm bàn đạp, Nguyễn Vương bung quân ra đánh Phú Xuân, một trận quyết định số phận nhà Tây Sơn, chấm dứt một cuộc tranh chấp nội bộ đẫm máu kéo dài trên hai mươi năm .

Trên đây là những ghi chép về Nguyễn (Phúc) Ánh theo các tài liệu lịch sử, bên cạnh những ghi chép từ các tư liệu lịch sử thì một nguồn dữ liệu rất quan trọng khác về Nguyễn (Phúc) Ánh là các câu chuyện truyền khẩu trong dân gian. Một trong những câu chuyện liên quan đến Nguyễn Phúc Ánh ngày nay vẫn còn được lưu truyền tại làng Hội Vực, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang và cũng chính là câu chuyện có liên quan đến chủ nhân ngôi mộ cổ ngài Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành tại Hội Vực. Câu chuyện trên cũng đã được Allbert Sallet - nhà nghiên cứu dân tộc học người Pháp tại xứ Trung Kỳ - viết năm 1919 và đăng trên Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H) năm 1924.

Trong quá trình điền giã, khảo cứu vùng Bà Nà - Núi Chúa, Allbert Sallet đã điều tra, nghiên cứu từng độ cao của núi, sinh sống những loài thực vật, động vật một cách tỉ mỉ đầy kinh nghiệm của một nhà tự nhiên học . Bên cạnh khảo tả về địa hình, sông núi và thực vật, ông còn sưu tầm, ghi chép nhiều câu chuyện lịch sử của Bà Nà - Núi Chúa và vùng phụ cận, một trong những câu chuyện đó là câu chuyện về Vua Gia Long Nguyễn Ánh và chủ nhân ngôi mộ “Bình hương xử sĩ” tại làng Hội Vực.

Dưới góc nhìn và ngòi bút của Allbert Sallet, câu chuyện của Nguyễn Phúc Ánh và chủ nhân ngôi mộ cổ tại Hội Vực được thuật lại như sau:

“An Nam – Bà Nà năm 1919 – Dừng chân trên đoạn đường lên Bà Nà…

Trong thời kỳ chiến tranh, nhà vua tương lai Gia Long chống lại quân cướp ngôi  Tây Sơn để giữ lấy vương quốc của mình. Truyền thuyết kể lại rằng hoàng từ có quan hệ với “núi Chúa”. Họ kể rất chi tiết về con đường đi trên núi của những người lánh nạn này và có một khu đất do Nguyễn Ánh chiếm trên đỉnh. Họ chỉ cho chúng tôi về dãy núi nhấp nhô phía Tây Bắc, đỉnh núi là một hình tháp đều cạnh, có một nơi được khoét sâu thành khung khác với xung quanh nay vẫn còn. Theo truyền thuyết thì tại đây có đặt một bàn đá bằng cẩm thạch ở giữa, xung quanh là bốn ghế. Một con đường hình xoắn ốc đi từ chân núi lên đỉnh, Hoàng tử dùng nơi này để thu thuế những người Mọi  trung thành với Hoàng tử.

Dọc theo triền núi nghiêng chếch của Bà Nà là dòng sông Lỗ Đông với một vùng đất đã được canh tác, nay đã bỏ hoang.

Tại nơi hoang vắng này lại có một sự kiện thật bất ngờ xảy ra. Theo truyền thuyết, có một bộ phận của gia đình vua Gia Long cư ngụ với sự bảo vệ của người Mọi. Một bà phi của vua Gia Long quản lý công việc, lo tiếp tế cho quân của vua, khai thác 50ha đất. Nay vẫn còn lại các dấu tích về các thửa ruộng, các cây ăn trái. Vì hoàn cảnh nên tôi không thể tìm hiểu rõ một nơi từng là căn cứ vững chắc, bảo đảm cho nhà vua ẩn náu.

Trong một cuộc điều tra tại các làng xung quanh dọc theo các sườn núi cho biết, khi vua Gia Long bị truy lùng thì sẽ rút lên Bà Nà. Ông đã lệnh trồng chè và mít. Do hương thơm của loại chè này nên người ta đã nhân giống để trồng đến nay vẫn còn, những cây mít cuối cùng đã bị chặt hạ khi làm đường.”

Từ tư liệu qua lời kể của Allbert Sallet  trong BAVH (1924), đối chiếu với lời kể của người dân thôn Hội Phước ngày nay cho biết vị trí mà Nguyễn Phúc Ánh lán nạn có tên gọi là Gò Động, tương truyền tại đây có một hang động ngày trước được người dân địa phương đào sâu vào lòng núi để chúa Nguyễn Ánh và tùy tùng có chỗ trốn tránh sự truy sát của quân Tây Sơn. Xa hơn chút là Gò Đồn, nơi Nguyễn Ánh đóng quân.

Cũng trong BAVH(1924) Allbert Sallet có kể lại mối liên hệ của chủ nhân ngôi mộ cổ tại Hội Vực với vua Gia Long như sau:

“Chính khi trú ngụ tại đây, hoàng tử Nguyễn Ánh đã tìm đến một người họ Mạc ở tại làng Hội Vực (chính là ngôi làng nằm gần thượng nguồn tại hợp lưu giữa hai sông Lỗ Đông. Ông họ Mạc này cung cấp trâu bò, lương thực, lúa nếp cho đoàn quân của hoàng tử. Khi vua Gia Long lên ngôi, nhớ đến công lao của bề tôi trung thành nên muốn ban một chức quan cho ông. Song ông họ Mạc cảm ơn nhà vua và từ chối ân huệ này. Ông muốn sống tại vùng rừng núi này, với cách sống nông thôn. Ông chỉ nhận tước “Bình Hương Xử Sĩ” (nhà Nho ở ẩn). Ngôi mộ của ông được chăm sóc chu đáo nằm trong khu vực Hội Vực, chẳng khác gì ngôi mộ của các quan chức sắc. Nơi đây được gọi là Bàn Cao. Ngôi mộ có diện tích 7m x 10m có phiến đá và một tấm bia khắc dòng chữ quan trọng Cố Việt Bình Hương Xử Sĩ Mạc Công Mộ” 

Như vậy có thể thấy chủ nhân ngôi mộ có liên quan chặt chẽ đến sự kiện vua Gia Long cùng chúa Nguyễn giai đoạn lánh nạn tại Quảng Nam, công lao của ông đã được vua Gia Long ghi nhận. Ngày nay, người dân trong vùng vẫn còn lưu giữ câu chuyện về vị Bình Hương Xử Sĩ và mối liên hệ của ông với vua Gia Long. Câu chuyện này trở thành một truyền thuyết nổi bật của khu vực Bà Nà - Núi Chúa và vùng phụ cận.

5. Sinh hoạt văn hóa tính ngưỡng liên quan đến di tích

Thần chủ của ông hiện được thờ tại nhà thờ tộc Mạc, thôn Hội Phước, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Hiện tại trên thần chủ của ông còn ghi rõ:

奉為先公莫族第五世祖諱長成之位

“Phụng vị đệ tiên công Mạc tộc đệ ngũ thế tổ húy Trường Thành chi vị”

奉為第五世祖妣平鄉處士正室孺人諱山列之位

“Gia Long đế sắc tứ Bình hương xử sĩ thụ phong Dực bảo trung hung linh phòng chi thần”

Sắc phong của vua Gia Long dành cho ông đã bị hủy do chiến tranh đến nay đã không còn.

Hằng năm, lấy ngày 08 tháng 5 (Âm lịch) là ngày mất của ông, con cháu tộc Mạc ở Hội Vực tổ chức dẫy mã, cúng và tưởng nhớ công đức.

6. Khảo tả di tích

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành là ngôi mộ có các đặc điểm tiêu biểu của một ngôi mộ cổ vùng Quảng Đà, điều đó được thể hiện qua việc chọn thế đất, phong thủy thường được chọn thế đất cao ráo, rộng rãi, trong một không gian yên tĩnh, có các yếu tố tự nhiên đóng vai trò “tiền án - hậu chẫm”. Mộ cổ vùng Quảng Đà thường bao gồm các thành phần kiến trúc cơ bản như: Vòng thành/khuôn mộ - Bình phong - Sân bái đình và lan can (nữ tường) - Nấm mộ và liếp mộ - Bia mộ. Về nguyên vật liệu xây mộ thường được cấu tạo từ vô (mã vôi) hợp chất vôi vữa, võ nhuyễn thể…và có kết cấu được xây theo dạng mộ hợp chất (đối với tầng lớp quan chức, khá giả).

6.1 Thế đất và phong thủy 

Phong thủy mộ trạch đóng một vai trò quan trọng trong kiến trúc mộ táng. Việc một ngôi mộ được xây dựng tuân theo những quy tắc được cho là tốt theo phong thủy không chỉ làm “yên lòng” người đã khuất mà còn có tác động đến con cháu, thân quyến trong gia đình. Ngôi mộ có phong thủy tốt sẽ giúp con cháu bình an, công việc hanh thông, thuận lợi. Ngược lại nếu phong thủy mộ trạch không tốt, sẽ có những ảnh hưởng bất lợi lên cuộc sống con cháu của người đã khuất.

Theo đó, một ngôi mộ có phong thủy tốt trước hết phải dựa vào thế đất và vị trí đặt ngôi mộ. Để chọn một thế đất làm huyệt cát phải có nhập thủ đầy đặn (nhập thủ được hiểu là nơi long mạnh vào mộ). Một thế đất tốt theo phong thủy là thế đất cao ráo, rộng rãi, trong một không gian yên tĩnh, có các yếu tố tự nhiên đóng vai trò “tiền án - hậu chẫm”…Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành nhìn chung đều thuận theo các yếu tố được cho là tốt về phong thủy.

Mộ tọa lạc trên một gò đồi cao ở thôn Hội Vực, xung quanh là rừng cây và mộ của người dân, mộ nằm trên một bình đồ có trục Bắc - Nam, mặt quay về hướng Nam. Xét về yếu tố phong thủy âm trạch, mộ được xây trên đồi cao, địa thế cao ráo mặt quay về hướng Nam - hướng được xem là hướng tốt trong phong thủy, mang lại vượng khí cho con cháu, phía trước mộ hướng về sông Lỗ Đông đóng vai trò như yếu tố minh đường “tụ thủy tích phúc”, xa hơn là núi Hòn Vòng đóng vai trò như tiền án.

6.2 Đặc điểm kiến trúc

Mộ được xây dựng bằng các vật liệu hợp chất vữa vôi, đá... Nhìn tổng thể, mộ bao gồm các thành phần chính:

- Vòng thành/khuôn mộ

- Bình phong

- Sân bái đình và lan can (nữ tường)

- Nấm mộ và liếp mộ

- Bia mộ

       a) Vòng thành/ khuôn mộ

Vòng thành (hay còn gọi là khuôn mộ) là vòng bao quanh mộ, giới hạn địa phận mộ với không gian bên ngoài. Theo tiếng Hán Việt thành được gọi là “uynh thành” (có nghĩa là tường thành quanh mộ). 

Vòng thành mộ thể hiện tư duy mang tính dân tộc – tư duy bảo vệ. Các ngôi mộ hầu như luôn luôn được bao bằng vòng thành; thậm chí các mộ bằng đất, kiểu đơn giản cũng có vòng thành, một gờ đất, gờ đá hay gờ cây giản dị.

Vòng thành mộ có nhiều kiểu: tròn (viên thành), trái xoan, vuông vức hay chữ nhật; có thế kết hợp vòng thành đơn hoặc vòng thành kép.

Theo Leopold Cadiere khi khảo tả về lăng mộ người Việt vùng phụ cận Huế thì vòng thành không chỉ được hiểu là vòng bao quanh mộ mà bao gồm cả những yếu tố khác vốn liên kết chặt chẽ với vòng thành, hoặc gồm trong vòng thành như: cửa, các bình phong che chắn, bái đình và lan can (nữ tường) bao quanh bái đình, bàn lễ, hồ, án thờ thổ thần, các cột định ranh vùng đất cấm, ngay cả bia cũng thuộc vòng thành . Tuy nhiên đối với hồ sơ lý lịch Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành, chúng tôi sẽ khảo tả các đơn nguyên của mộ như bình phong, sân bái đình, bia mộ với tư cách là các đơn nguyên kiến trúc riêng, có đặc điểm và vai trò độc lập.

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành có hai vòng thành. Vòng ngoài bao quanh có dạng hình chữ nhật tại vị trí bốn góc được uốn cong mềm mại, thành được xây dựng bằng đá và hợp chất vôi vữa. Thành có chiều dài 12,2 mét, rộng 8,3 mét, cao 0,8 mét. Thành ngoài bao quanh mộ và được xẻ phía trước thành lối đi dẫn vào mộ, thành được trổ ngoài thành hai cửa cột vuông đóng vai trò là cửa mộ, có chiều cao mỗi cột 1 mét.

Vòng thành trong là vòng thành bao quanh và gần sát với liếp mộ. Vòng thành trong được đắp tròn cao 0,5 mét và có dạng móng ngựa, tròn mở rộng ở trên đầu và hẹp dần về phía trước.

b) Bình phong

Sau vòng thành ngoài là bình phong. Bình phong được đặt ở phía trước (bình phong tiền) hoặc sau mộ (bình phong hậu - hội đầu) có tác dụng “chắn gió” bảo vệ người đã khuất. Bình phong tiền Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành được đặt ở chính giữa lối đi vào sau vòng thành ngoài và trước sân bái đình. Bình phong tiền có hình chữ nhật, cao 0,93 mét, rộng 1,98 mét, được bạt ở hai góc phía trên tạo nét mềm mại. Bình phong hậu cao 1,15 mét. Bình phong không được trang trí khảm sứ hoặc có thể đã bị xuống cấp, phai mờ do thời gian và các yếu tố khách quan khác như thời tiết, chiến tranh…

c) Sân bái đình

Sân bái đình là khu vực bái lạy và cúng tế người đã khuất vào các ngày giỗ kỵ. Thông thường vị trí quy định của sân này là nằm trước cửa vòng thành ngoại. Trong trường hợp chỉ có một vòng thành thì vị trí quy định dành cho sân bái đình là trước cửa vòng thành. Quy định này cũng thường thay đổi, sân bái đình được đặt bên trong vòng thành ngoài và trước vòng thành trong, hoặc nằm bên trong vòng thành đơn .

Trường hợp Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành, sân bái đình nằm phía sau bình phong và ngay trước nấm mộ. Sân bái đình được giới hạn bởi các lan can (nữ tường) . Các lan can này là những bức tường cao 0,64 mét, dày 0,53 mét được xếp lật (góc vuông) và khớp nối với vòng thành trong. Các lan can (nữ tường) này góp phần tạo nên hình dáng cho sân bái đình cũng như thẩm mỹ cho ngôi mộ.

Sân bái đình được giới hạn bằng nữ tường và một vòng cung phía trước mộ tạo thành hình bán nguyệt có bán kính 2,4 mét.

d) Nấm mộ và liếp mộ

Nấm mộ là bộ phận quan trọng của ngôi mộ ở giữa vị trí trung tâm ngôi mộ và ngay trên vị trí chôn người đã khuất.

Nấm mộ có nhiều hình dáng khác nhau như nấm bán cầu, nấm vuông, nấm hình bán noãn (nấm trứng ngỗng), nấm hình mai rùa, nấm hình gáy ngựa hay còn gọi là mã lạp .

Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành có nấm mộ hình bán noãn hay có cách gọi khác là nấm hình trứng ngỗng. Loại nấm mộ này có dạng một quả trứng cắt dọc, Phía đầu người đã khuất thì cao hơn, thấp và nhỏ dần về phần chân (phía trước), nấm mộ chạy trên nền hình trái xoan. Khích thước nấm mộ có bề dài 1,74 mét và bề rộng 1,2 mét.

Liếp (hay nấm liếp) là một tấm lát đúc, rất phẳng và có hình chữ nhật. Có khi chỉ một cấp nhưng phần nhiều là hai cấp, thỉnh thoảng đến ba cấp. Nấm hình bán noãn thường được liên kết với liếp một cấp hoặc hai cấp .

Liếp Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành là dạng liếp mộ một cấp, hình chữ nhật có chiều dài 2,1 mét, chiều rộng 1,7 mét, liếp mộ rất mỏng chỉ 0,08 mét, được kết hợp với nấm mộ hình bán noãn ở phía trên. Đây là hình thức kết hợp rất đặc trưng, điển hình cho đặc điểm kiến trúc của một ngôi mộ cổ.

e) Bia mộ

Bia là một yếu tố rất quan trọng của lăng mộ, vì chính nó cá biệt hóa ngôi mộ và nói lên hộ tịch (chức nghiệp và quên quán) của người đã khuất.  Vị trí thông thường của bia thường nằm ở chân mộ, thường được đặt trong bình phong hậu, có một số trường hợp đặt ở bình phong tiền. Thông thường bia được đặt ở ngoài trời nhưng cũng có trường hợp được xây khám hoặc đặt trong nhà bia.

Bố cục bia mộ thường bao gồm: dòng chính văn (chính giữa) khắc họ của người mất, lạc khoản trái (hàng trái) khắc tên người lập bia, lạc khoản phải (dòng bên phải) khắc năm lập bia, tuy nhiên nhiều mộ chỉ khắc một mình hàng giữa; hàng giữa với hàng phải hoặc hàng giữa với hàng trái mà thôi, hiếm khi nào khắc cả 3 dòng trên một bia mộ. Dòng chính văn ở giữa được khắc bằng đại tự. Mở đầu văn bia thường có hai chữ Việt cố, Nam cố . Dòng lạc khoản phải thường bắt đầu bằng Thái tuế hay Tuế thứ, có khi là Tuế. Trong đó Việt cố hay Nam cố đã xuất hiện khá nhiều trên các văn bia mộ cổ rải đều khắp miền Trung trở vào, các bia mộ cổ ở Đà Nẵng góp phần làm dòng chảy Việt cố, Nam cố thêm liên tục vào Đàng Trong .

Trong bài viết “Tombeaux annamites dans les environs de Huế” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế) của L. Cadière ở tạp chí B.A.V.H 1928 cùng quá trình khảo sát thực địa nhiều năm, tác giả đã đi đến khẳng định tính đặt trưng khu biệt của loại hình bia mộ khởi đầu bằng “Việt cố” 越 故 là loại hình bia mộ thời Chúa Nguyễn (hay thời tiền Nguyễn). Tác giả viết: “Từ niên điểm 1804 trở về sau, theo chúng tôi, hai chữ “Việt Cố” trên bia mộ không còn xuất hiện phổ biến, mà được thay thế bằng hai chữ khác là “Hoàng Việt”. Cho đến nay, giới nghiên cứu đa phần đồng thuận với nhận thức rằng bia mộ có “Việt cố” là loại hình bia mộ thời Chúa Nguyễn, hoặc muộn lắm là trước khi vua Gia Long đổi đặt Quốc hiệu Việt Nam (1804)  

Bia Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành có cấu tạo bằng đá sa thạch, bia cao 1,15 mét, rộng 0,75 mét. Bia được trang trí đường diềm quanh bia bằng các họa tiết hoa lá, giữa bia khắc dòng đại tự bằng chữ Hán Nôm theo bố cục:



Hiện nay, trên bia mộ có nhiều vết tích bị đục phá bởi vết đạn do chiến tranh tuy nhiên nhìn chung bia vẫn có hiện trạng tốt, chữ khắc trên bia vẫn còn đọc rõ.

6.3 Kết cấu mộ

Nhìn quy mô, kiểu dáng và vật liệu xây bên ngoài, có thể khẳng định Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành thuộc kiểu mộ hợp chất . Dạng mộ hợp chất này được kết cấu từ hợp chất vôi, mật với vỏ nhuyễn thể mà không có cốt gạch. Đây là kiểu mộ chỉ dành có những bậc làm quan lớn hoặc tầng lớp khá giả trong xã hội, với một kỹ thuật kết cấu xây dựng ngoài quách kết gắn với kỹ thuật để thi thể ở trong quan, hướng tới một môi trường khử trùng tốt nhất cho “mồ yên, mả đẹp”. 

7. Sơ đồ di vật, cổ vật, hiện vật thuộc di tích

Hiện di tích còn 01 bia mộ bằng đá sa thạch và bản tộc phổ họ Mạc Như đang được lưu giữ tại nhà thờ tộc Mạc thôn Hội Phước

8. Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của di tích

Trước hết giá trị của ngôi mộ thể hiện ở rõ phương diện kiến trúc nghệ thuật. Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành mang các đặc điểm kiến trúc đặc trưng của một ngôi mộ cổ thời Nguyễn, mộ mang đầy đủ các đơn nguyên của một ngôi mộ truyền thống như vòng thành, bình phong, bia mộ, liếp mộ, sân bái đình...Không chỉ vậy, các đặc trưng của Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành còn thể hiện ở hình dáng của các đơn nguyên kiến trúc (mà gần như ngày nay đã không còn được sử dụng) như vòng thành hình móng ngựa, nấm mộ hình bán noãn....Mộ được cấu tạo ở dạng mộ hợp chất, vật liệu xây mộ là vôi vữa, võ nhuyễn thể...là những vật liệu cũ và gần như đã bị thất truyền. Đây sẽ là một minh chứng, một ví dụ điển hình về phong cách và kiến trúc mộ táng thời Nguyễn ở vùng đất Đà Nẵng.

Đối với Đà Nẵng, hầu như chưa có sự nhìn nhận và đánh giá đúng về giá trị kiến trúc các ngôi mộ cổ, việc nhìn nhận và đánh giá về những ngôi mộ cổ này sẽ tạo tiền đề cho việc giữ gìn và phát huy các giá trị của cha ông để lại.

Ngôi mộ cổ này phần nào đã phác họa diện lại mạo quá khứ, đời sống vật chất - tinh thần, nhân sinh quan - thế giới quan của cổ nhân trên mảnh đất này.

Bên cạnh giá trị về kiến trúc nghệ thuật Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành có ý nghĩa lịch sử. Những câu chuyện về sự giúp đỡ, hỗ trợ của chủ nhân ngôi mộ đối với vua Gia Long có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu về thời gian vua Gia Long và chúa Nguyễn ở vùng đất Đà Nẵng, đặc biệt là khi những ghi chép về vua Gia Long giai đoạn ở Đà Nẵng còn rất ít và khá mơ hồ.

Cuộc đời của ngài Mạc Trường Thành được biết đến với tư cách là một kẻ sĩ, một nhà Nho ở ẩn, câu chuyện về ông đã thể hiện tinh thần và khí chất của con người Quảng Đà.

Chính vì vậy, việc di tích Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành được con cháu tộc Mạc tại thôn Hội Phước, xã Hòa Phú trân trọng giữ gìn cho đến hôm nay có ý nghĩa hết sức to lớn. Ngôi mộ là một trong những địa điểm tiêu biểu về mộ cổ, mộ táng có giá trị của Đà Nẵng.

9. Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị của di tích

Ngày nay, Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành được con cháu tộc Mạc (Thôn Hội Phước, xã Hòa Phú) trông coi và cúng bái. Về phía chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân huyện Hòa Phú, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Hòa Vang cũng đã tổ chức một số đợt thăm dò, nghiên cứu và đánh giá sơ bộ ngôi mộ cổ đồng thời tiến hành dọn dẹp, vệ sinh khuôn viên khu mộ theo định kỳ.

Tuy nhiên, sau hơn 200 năm, khuôn viên của mộ trước đây ngày càng dần bị thu hẹp do thời gian, sự tác động của con người và các yêu tố tự nhiên. Khu mộ đã xuống cấp. Khuôn viên mộ bị cây cỏ xâm lấn, thành mộ, nấm mộ...bị phong hóa và nứt gãy.

Mộ nằm trên một khu đồi cao, nhưng không có con đường dẫn lên mộ mà phải đi sau lưng nhà văn hóa thôn Hội Phước và băng qua đồi cây, đường dẫn vào mộ hiện nay là đường tắt, lối đi khá chật hẹp và khó đi.

Các thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần phải có biên pháp nghiên cứu bảo vệ Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành nói riêng cũng như mộ cổ ở các địa phương khác tại Đà Nẵng nói chung.

10. Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích:

Để nhằm bảo tồn bền vững di tích Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành, cần nghiên cứu thực hiện các nội dung sau:

Một là cần tổ chức nghiên cứu, làm rõ hơn về quá trình vua Gia Long ở Đà Nẵng, cùng những liên hệ của ông đối với người dân Đà Nẵng, qua đó mọi người càng nhận thức được rõ hơn về chủ nhân ngôi mộ cũng như giá trị, ý nghĩa của di tích.

Hai là thực hiện tốt việc tuyên truyền giá trị của di tích đến với mọi người dân, trong đó chú trọng các đối tượng là học sinh, sinh viên, thanh niên trên              địa bàn.

Ba là có biện pháp cải tạo, mở rộng lối đi từ đường bê tông đến mộ, khôi phục lại khuôn viên, có lối đi theo hướng chính diện dẫn đến khu mộ để thuận tiện cho việc người dân đến thăm viếng, tái tạo lại không gian trang nghiêm như xưa cho toàn thể khu mộ.

Bốn là đối với việc bảo tồn và trùng tu ngôi mộ cổ cần có sự nghiên cứu thấu đáo và chặt chẽ, giá trị của ngôi mộ thể hiện rõ nhất qua phương diện kiến trúc do đó cần cân nhắc kĩ về nguyên vật liệu và cách thức nếu tiến hành trung tu để đảm bảo giá trị và tính “cổ” của ngôi mộ.

11. Kết luận:

Căn cứ Luật Di sản văn hóa ngày 29 tháng 06 năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa;

Căn cứ Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh;

Xét giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật của di tích,

Bảo Tàng Đà Nẵng kính đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao trình Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định xếp hạng Mộ cổ Bình hương xử sĩ Mạc Trường Thành, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang là di tích Kiến trúc nghệ thuật.

12. Tài liệu tham khảo:

1. Quốc sử Quán triều Nguyễn - Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, NXB Giáo dục, 1998

2. Quốc sử Quán triều Nguyễn - Đại Nam Thực lục Chính biên, tập I, NXB Giáo dục, 2007 

3. Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử Nội Chiến Việt Nam 1771- 1802, Sài Gòn: Nhà Xuất bản Văn Sử Học

4. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng (1360 – 1975), NXB Hồng Đức, 2019

5. Leopold Cadiere (bản dịch Đỗ Trinh Huệ), Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt, NXB Thuận Hóa, 2010

6. Phan Khoang - Việt sử xứ Đàng Trong, NXb Văn học

7. Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) 1924

8. L. Cadière,Tombeaux annamites dans les environs de Huế (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế) B.A.V.H 1928

9. Cristoforo Borri - Xứ Đàng Trong, 1621

10. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc - Nguyễn Phúc Tộc thế phả, NXB Thuận Hóa (1995)

11. Nguyễn Duy Sinh, Quảng Nam và những vấn đề sử học, NXB Văn hóa thông tin

12. Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược, NXB Kim Đồng

13. Lê Quý Đôn - Phủ Biên tạp lục

14. Tống Văn Lợi - Về nhân vật Nguyễn Ánh Gia Long, Tạp chí Xưa và nay (số 490 tháng 12 năm 2017)

15. Văn Thành Lê - Huyền tích làng Hội Vực, Báo Đà Nẵng

16. Tạp chí xưa nay, số 450

17. Tạp chí di sản văn hóa phi vật thể số 4 (57) - 2016

18. Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng, Văn hóa Đà Nẵng từ những mảnh ghép, NXB Đà Nẵng

19. Đảng bộ xã Hòa Bắc, Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Bắc, NXB Đà Nẵng

20. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quỳnh (1999), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục

21. Từ điển Bách Khoa toàn thư

22. Hoàng Phê (Cb), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003

23. Bản dịch (viết tay) bài viết của Allber Sallet đăng trên tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) 1924 của Huỳnh Phương Bá 

24. Ghi chép theo một số lời kể của con cháu tộc Mạc và bà con nhân dân thôn Hội Vực, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang.

Giờ mở cửa

Cả ngày

Vé tham quan

Miễn phí

Liên hệ

Liên hệ: UBND xã Hòa Vang
Website:  
Phương tiện di chuyển: Xe máy

Lượt tham quan

0

THƯ VIỆN HIỆN VẬT

Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm

0 hiện vật được trưng bày