Mộ thống chế Lê Văn Hoan
/5 ( đánh giá)
Nằm thanh bình tại vùng đất Hòa Phong, mộ Thống chế Lê Văn Hoan là nơi an nghỉ của một vị tướng quản tượng tài ba, người từng trải qua hai triều đại Tây Sơn và triều Nguyễn. Lịch sử còn mãi lưu danh ông khi sát cánh cùng Hoàng đế Quang Trung trong cuộc hành quân thần tốc đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789. Bước vào không gian này, du khách sẽ ấn tượng với ngôi mộ hợp chất vôi mật cổ xưa, phía trước có cặp tượng voi phục quỳ chầu – biểu tượng kiêu hãnh cho uy danh và sự nghiệp quản tượng binh lừng lẫy của một thời khói lửa.
Tham quan ảo 360°
Thông tin địa điểm
Địa chỉ: Xã Hòa Vang, Đà Nẵng, Việt Nam
Giới thiệu
MỘ THỐNG CHẾ LÊ VĂN HOAN
(xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng)
1. Tên gọi di tích
a) Tên gọi chính thức:
Mộ Thống chế Lê Văn Hoan
b) Các tên gọi khác:
Theo người dân địa phương mộ Thống chế Lê Văn Hoan còn được gọi bằng các tên gọi khác như:
- (Lăng) Mộ ông Thống
- (Lăng) Mộ Lê Thống chế
2. Địa điểm và đường đến di tích
a) Địa điểm di tích
Mộ Thống chế Lê Văn Hoan tọa lạc tại xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, cách Trung tâm Hành chính Đà Nẵng khoảng 19km về hướng Tây - Nam
b) Đường đi đến di tích
Từ trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng đi theo đường Trần Phú khoảng 2km đến Bảo tàng Điêu khắc Chăm (chân cầu Rồng), rẽ sang đường 2 tháng 9 đi tiếp khoảng 4,1 km đến Ngã tư cầu Hòa Xuân, tiếp tục đi thẳng 3km theo đường Cách mạng tháng 8 qua cầu vượt Hòa Cầm. Đi theo đường Quốc lộ 14B khoảng 11km đến ngã ba giao Quốc lộ 14B với quốc lộ 14G, rẽ phải theo quốc lộ 14G đi thẳng thêm 2,5km đến ngã ba khu dân cư, rẽ trái sang đường bê tông đi thẳng thêm 800m, đến ngã ba khu dân cư tiếp tục rẽ trái theo đường bê tông đi thêm 200m là đến di tích mộ Thống chế Lê Văn Hoan.
3. Phân loại di tích
Căn cứ vào kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích, căn cứ theo quy định tại Điều 11, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010, di tích mộ Thống chế Lê Văn Hoan thuộc loại hình di tích lịch sử
4. Sự kiện nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích
Thống chế Lê Văn Hoan (1764 - 1828) quê gốc ở huyện Hòa Vinh nay thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trong Đại Nam Liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn có nhắc đến quê quán của ông như sau: “Lê Văn Hoan, người huyện Hoà Vinh, tỉnh Quảng Nam...”
Cha ông là Đô úy Minh Nghĩa từng giữ chức Đội trưởng đội quân Voi trung cấp, tước hầu Chánh quản cơ, mẹ ông họ Nguyễn
Trên Thần chủ của Thống chế Lê Văn Hoan có ghi:
Chữ Hán
Bên trong:
顯 考 嚴 威 將 軍 上 護 軍 象 軍 統 制 加 三 級 贈 壯 武 將 軍 柱 國 都 統 謚 武 格 諱
生 於 甲 申 年 昧 月 日 時 享 靈 陸 拾 五 歲
卒 於 戊 子 年 肆 月 初 柒 日 辰 時
Bên ngoài:
顯 考 嚴 威 將 軍 上 護 軍 象 軍 統 制 加 三 級 贈 壯 武 將 軍 柱 國 都 統 謚 武 格 黎 公 神 主
孝 子 黎 文 造 奉 祀
Phiên âm:
Bên trong:
Hiển khảo Nghiêm Uy tướng quân thượng hộ quân tượng quân Thống chế gia tam cấp tặng Tráng Võ tướng quân trụ quốc Đô thống, thụy Võ Cách, húy ...
Sinh ư Giáp Thân niên muội nguyệt nhật thời, hưởng linh lục thập ngũ tuế.
Tốt ư Mậu Tý niên tứ nguyệt sơ thất nhật Thìn thời.
Bên ngoài:
Hiển khảo Nghiêm Uy tướng quân thượng hộ quân tượng quân Thống chế gia tam cấp tặng Tráng Võ tướng quân trụ quốc Đô thống, thụy Võ Cách, Lê công thần chủ.
Hiếu tử Lê Văn Tạo phụng tự.
Dịch nghĩa:
Bên trong:
Cha thụy là Võ Cách , húy [...], chức Nghiêm Uy tướng quân, thượng hộ quân tượng quân Thống chế, gia ba cấp, tặng Tráng Võ tướng quân trụ quốc Đô thống.
Sinh năm Giáp Thân, không rõ giờ, ngày, tháng sinh, hưởng dương 65 tuổi.
Mất giờ Thìn, ngày mồng 7 tháng 4 năm Mậu Tý.
Bên ngoài:
Thần chủ của cha, người họ Lê, thụy Võ Cách, giữ chức Nghiêm Uy tướng quân, thượng hộ quân tượng quân Thống chế, gia ba cấp, tặng Tráng Võ tướng quân trụ quốc Đô thống.
Hiếu tử Lê Văn Tạo phụng tự.
Lê Văn Hoan sinh ra trong thời kì tình hình đất nước rối ren, bị chia cắt bởi nội chiến. Từ giữa thế kỷ 18, người nông dân bị bần cùng và họ đã đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong. Ở đằng trong, chúa Nguyễn Phúc Khoát lại lười nhác, ham hưởng lạc, bỏ bê triều chính. Các quan lại cấp dưới cũng học theo thói xa xỉ đó, nạn tham ô, hối lộ cũng vì thế mà ngày càng nghiêm trọng.
Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về thời kỳ cuối chúa Nguyễn là: “…Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa – dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng…” Triều đình ngày càng suy yếu, lòng dân chán ghét, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra báo hiệu sự cai trị của chúa Nguyễn đã sắp đến hồi kết.
Trong bối cảnh tranh chấp quyền lực cuối thời Lê Trung Hưng như vậy, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi phát từ ấp Tây Sơn (Bình Định) tập hợp lực lượng đứng lên khởi nghĩa, quân Tây Sơn nhận được sự ủng hộ của nhân dân sau khi lật đổ chúa Nguyễn ở đằng Trong, chúa Trịnh ở đằng Ngoài, đánh tan liên quân Xiêm – Nguyễn thành lập nhà Tây Sơn.
a) Đô đốc Lê Văn Hoan dưới triều Tây Sơn
Vào giai đoạn Thế kỷ 18, huyện Hòa Vang (theo Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì lúc này Hòa Vang là một trong năm huyện thuộc phủ Điện Bàn) nổi tiếng là nơi sản sinh những người quản tượng tài giỏi. Lê Văn Hoan cũng nằm trong số ấy. Đương thời, Lê Văn Hoan được sinh ra trong gia đình có truyền thống quản tượng binh - cha ông từng giữ chức Đô úy, độ trưởng đội quân voi trung cấp. Khi lớn lên, Lê Văn Hoan được anh em nhà Tây Sơn chiêu mộ làm binh sĩ dưới quyền, chuyên huấn luyện đội tượng binh lên đến hàng trăm con voi dữ. Tước hiệu của Lê Văn Hoan lúc này là Đô đốc quản doanh tượng binh, cánh tay đắc lực thống lĩnh đội voi chiến .
Nguyễn Nhạc sau khi lên ngôi vua đã tiến hành chỉnh đốn lực lượng tượng binh, quy định rõ ngạch voi, số đội và các quy định về quản lý, chăm sóc, huấn luyện voi. Theo đó, tượng binh được phiên chế thành các đội, mỗi đội có từ 30 - 40 con. Đội voi ở mỗi tỉnh có tầu (chuồng) riêng, được các quản tượng trông nom, tập luyện. Hằng năm, trong các đợt tập trận lớn, các đội voi thường được đem ra diễn tập cùng các lực lượng khác.
Dưới triều Tây Sơn nói riêng và Đàng Trong nói chung, tượng binh (voi chiến) là một trong những binh đội quan trọng nhất. Voi dùng trong chiến đấu cũng khác hẳn những con voi được thuần hoá để dùng trong các đoàn lưu diễn hay trong lễ lạc và cũng không giống như một gia súc mà nhiều dân tộc dùng trong công việc hàng ngày. Nhiều khi người ta chỉ cần so sánh đội tượng binh của một quốc gia cũng đủ đánh giá sức mạnh quân sự của nước ấy và đoàn voi trận thường được dùng như một cách phô trương trong các buổi tiếp sứ thần nước ngoài. Những con voi trận có khi còn được mặc giáp bằng da hay kim loại và theo Maurice Collis, một người chuyên môn huấn luyện voi, thì đây là những con vật được đào tạo để hung dữ theo lệnh lạc, sử dụng như một mũi xung kích trong chiến đấu và cũng là một sát thủ giết người bằng cách tung lên, dày đạp, xé nát (đối phương) một cách thích thú như trẻ con.
Tượng binh dưới thời Tây Sơn vốn được biết đến là một trong những đội quân hùng mạnh có vai trò to lớn đôi với quân đội Tây Sơn, dưới sự chỉ huy, huấn luyện của các vị tướng như Bùi Thị Xuân, Lê Văn Hoan. Binh chủng đặc biệt này đã góp công đầu cho nhiều chiến thắng mà đỉnh cao là lần đại phá 19 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789)
Thời kỳ đầu khởi nghĩa, trong đội quân áo vải cờ đào chỉ có một số lượng rất hạn chế các thớt voi do các thủ lĩnh miền núi đem về. Sau đó, nhờ tích cực săn tìm, huấn luyện voi rừng từ những vị tướng như Bùi Thị Xuân, Đô Đốc Hoan, Đô đốc Bảo mà đội voi lên được vài chục con. Như Tập san sử địa số 13 có ghi: "Voi có nhiều ở Cao Nguyên Trung Phần. Tây Sơn cũng như Nguyễn Huệ ở gần đất có voi, nên việc lập tượng binh rất dễ dàng. Cùng với sự phát triển của nghĩa quân qua các trận đánh, Tây Sơn thu được thêm nhiều voi chiến từ các nhà Nguyễn, Trịnh, vốn đều có rất nhiều thớt voi. Thời Trịnh Nguyễn phân ranh, Chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía nam, gồm các vùng Cao Nguyên, nên việc kiếm voi rất dễ dàng. Vì thế, chúa Nguyễn lúc nào cũng có sẵn hàng trăm voi trận như giáo sĩ Delacourt có nói ít nhất là 400 voi trận".
Còn theo A.de Rhodes trong Lịch sử các vương quốc Đàng Ngoài thì chúa Trịnh từng tấn công chúa Nguyễn bằng một đội quân có 300 cỗ voi kéo súng. Theo Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (nhà tư tưởng Trung Quốc), sau khi diệt Trịnh, giải phóng Thăng Long, quân Tây Sơn đưa về Phú Xuân toàn bộ số voi chiến thu được, chỉ để lại ở Bắc Hà 50 thớt voi. Cho đến nay, chưa thể xác định chính xác số lượng voi chiến trong quân đội Tây Sơn, nhưng cứ theo số voi săn bắn và thu được của hai nhà Trịnh, Nguyễn thì con số này chắc chắn phải là vài trăm.
Đặt trong không gian và thời gian bấy giờ, lực lượng tượng binh mang lại ưu thế cực lớn. Voi đã được thuần hóa là loài vốn tính hiền lành, thân thiện với con người, nhưng khi đã xung trận thì chúng trở nên hung tợn, là quái thú trên chiến trường với sức mạnh vô song. Voi có thể phá hủy, xóa bỏ các chướng ngại vật, thậm chí là công sự thành lũy, mở đường cho bộ binh bằng cơ bắp và sức nặng của chúng. Khi đánh giáp lá cà, voi dùng vòi, chân, ngà để quăng quật, dày xéo, đâm húc quân địch, làm tan nát đội hình của đối phương. Khiên, giáp có thể chống được gươm giáo chứ không thể cản nổi sức mạnh của tượng binh. Bản thân lớp da dày của voi lại như một lớp giáp hộ thân cho chúng. Tiếng rống của đàn voi cũng là thứ vũ khí uy hiếp tinh thần quân giặc, đặc biệt là khiến đội kỵ binh khiếp đảm vì ngựa vốn rất sợ voi.
Trên lưng voi, ngoài quản tượng còn có 3 - 4 người cầm vũ khí vừa là hộ vệ cho voi vừa là để tấn công quân địch. Ngoài cung, nỏ, giáo cán dài…đội tượng binh Tây Sơn còn được trang bị đặc biệt bằng đại bác, hỏa hổ và hỏa cầu lưu hoàng. Như theo Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên thì, quân Tây Sơn đều chở đại bác bằng voi mà xông ra trận. Sau này Nguyễn Huệ đánh Ngọc Hồi, sử nhà Thanh có đoạn chép thêm: "Đại doanh ta vỡ, bị đội voi chiến đốt cháy, vì trên lưng mỗi con voi, có 3-4 tên lính chít khăn đỏ, ngồi ném, tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp mọi nơi, đốt cháy cả người nữa” .
Quân đội Tây Sơn bắt đầu hình thành từ tổ chức 5 Đồn: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu từ năm 1773. Ngày một lớn mạnh từ một đội quân để trở thành một lực lượng quân đội có quy mô và tổ chức cao. Biên chế quân đội theo nguyên tắc Ngũ chế (Năm quân), gồm có Trung quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân
Lê Văn Hoan trong hàng ngũ quân đội Tây Sơn đại phá quân Thanh
Viện cớ lời cầu cứu của Lê Chiêu Thống, cuối tháng 11 năm 1788, vua Thanh đương thời là Càn Long, lệnh cho Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân chia làm 4 đạo ồ dạt xâm lược nước ta với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long .
Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.
Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến. Lúc này, Đô đốc Lê Văn Hoan là một trong những vị tướng chỉ huy đội quân tượng binh hùng mạnh cùng vua Quang Trung tiến ra Bắc.
Tôn Sĩ Nghị cũng biết tiếng voi trận của dưới tài quản tượng của Lê Văn hoan cùng các vị tướng Tây Sơn nên khi đưa ra 8 điều quân luật, y đã học theo phép đánh của người xưa để chống lại tượng binh. Trích điều 4 theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái có đoạn viết rằng:
“Nghị (Tôn Sĩ Nghị) họp các tướng sĩ, ban bố quân luật gồm 8 điều
...Điều thứ 4: Người Nam khi ra trận hay dùng voi. Voi không phải là món người Thanh quen thạo, hễ gặp voi thường cứ chạy đi trước. Nhưng nào có biết sức voi dẫu lớn, chung qui vẫn là con vật có huyết khí, không thể đương nổi với đồ dẫn hỏa của ta. Vậy hễ thấy voi ra trận nếu xa thì bắn bằng súng, nếu gần thì trị bằng dao và cung khiến voi bị thương, đau phải chạy quay lại, rồi tự giày đạp lẫn nhau. Quân ta (Thanh) thừa cơ ấy mà tấn công, tất thắng không còn phải ngờ nữa. Cần phải chỉ bảo cho nhau cùng được biết”
Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân Thanh.
Trong cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh (1789) , lực lượng tượng binh cùng các Đô đốc quản tượng góp phần rất quan trọng trong tổng thể sức mạnh quân đội nhà Tây Sơn, có vai trò chiến thuật then chốt trong mỗi trận đánh.
Trong 5 đạo quân Tây Sơn từ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn tiến công quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu 1789 thì có tới 3 đạo quân sử dụng kết hợp tượng binh và kỵ binh, trên mỗi hướng tấn công đều có hàng trăm voi chiến tham gia. Ước trong cuộc tấn công quân Mãn Thanh, 300 voi chiến đã được sử dụng , riêng trận Ngọc Hồi, 100 voi chiến đã xung trận.
Trên mỗi voi chiến, ngoài quản tượng còn có 3 đến 4 người cầm vũ khí vừa bảo vệ voi vừa chiến đấu. Ngoài cung, nỏ, giáo cán dài,...tượng binh Tây Sơn còn được trang bị đặc biệt bằng đại bác, hỏa hổ và hỏa cầu lưu hoàng. Như theo Thánh Vũ Ký thì, quân Tây Sơn đều chở đại bác bằng voi mà xông ra trận. Khi Nguyễn Huệ đánh Ngọc Hồi, sử nhà Thanh có đoạn chép thêm: "đại doanh ta vỡ, bị đội voi chiến đốt cháy, vì trên lưng mỗi con voi, có 3-4 tên lính chít khăn đỏ, ngồi ném, tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp mọi nơi, đốt cháy cả người nữa"
Đêm mồng 3 Tết, quân Tây Sơn bất ngờ vây đánh đồn Hà Hồi, cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng: “Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng, năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.
Được đà chiến thắng, sáng mùng 5, Nguyễn Huệ đích thân dẫn quân đánh đồn Ngọc Hồi. Đây là nơi tập trung binh hùng tướng mạnh của quân xâm lược, có hệ thống phòng thủ kiên cố. Trong trận đánh mang tính quyết định này, lực lượng tượng binh đóng vai trò rất quan trọng trong các mũi tấn công. Để đối phó tượng binh Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Quang Trung cùng với các tướng tài Tây Sơn, trong đó có Đô Đốc Lê Văn Hoan, quân Thanh triệt để ngăn chặn bằng nhiều phương pháp trong đó có sử dụng các loại chất dẫn lửa, khói để cản đường.
Hoàng Lê Nhất Thống chí viết về diễn biến trận đánh tại Ngọc Hồi sáng mồng 5 tết Kỷ Dậu (1789) như sau: “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn; hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất"; vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi (theo Dã sử, thì lúc này vua Quang Trung sai đốt hết lương thực và tự mình quấn khăn vàng vào cổ để tỏ ý quyết chiến quyết thắng, không chịu lùi). Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình. Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết (Cương mục ghi Sầm Nghi Đống thắt cổ chết ở Loa Sơn (tục gọi gò Đống Đa). Theo Bang giao lục, trong chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu, số quân Thanh bị chết là 27 vạn). Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại.”
Như vậy, sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu [1789], quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.
Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị quân Tây Sơn mai phục chặn đánh. Cuối cùng, Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc.
Trận công đồn Ngọc Hồi được cả sử Trung Quốc là Thanh Thực Lục và sử Việt là Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục ghi chép chi tiết và trùng khớp
Trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có viết: Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mồng 5 tháng giêng), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Quân Tây Sơn dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân lính tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy.
Từ xưa, voi chiến vốn được ông cha ta huấn luyện và sử dụng trong các trận đánh, hình ảnh voi chiến gắn với những cuộc chiến chống ngoại xâm của bao vị anh hùng như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo…Nhưng có thể khẳng định, phải tới thời quân đội Tây Sơn - Nguyễn Huệ dưới sự chỉ huy của những binh tài tướng mạnh như Lê Văn Hoan, Bùi Thị Xuân...thì việc dụng tượng binh mới đạt đến đỉnh cao. Được xây dựng như một binh chủng đặc biệt với số lượng lớn, tổ chức quản lý chính quy, huấn luyện chiến đấu bài bản, được trang bị các lợi khí nguy hiểm, có sự kết hợp chặt chẽ với các binh chủng khác. Đây là lực lượng xung kích xuất sắc, sức mạnh chiến đấu ghê gớm, đóng góp công đầu vào nhiều chiến thắng vang dội quân đội Tây Sơn mà đỉnh cao là cuộc đại phá quân xâm lược Mãn Thanh.
Thắng giặc trở về, Đô đốc Lê Văn Hoan tiếp tục binh nghiệp cùng triều Tây Sơn đến năm 1799 (đời vua Cảnh Thịnh - Nguyễn Quang Toản)
b) Lê Văn Hoan dưới thời Nguyễn
Năm 1792, Vua Quang Trung mất. Khi vua Quang Trung mất, Thái Tử là Nguyễn Quang Toản mới lên 10 tuổi, triều đình tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Cảnh Thịnh, sau thành Phú Xuân thất thủ, vua tôi nhà Tây Sơn chạy ra Bắc hà lại đổi niên hiệu là Bảo Hưng . Lúc này quân của Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) đang thắng thế trên khắp chiến trường
Hoàng Lê Nhất Thống Chí có viết “Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802), quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chánh. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng năm mùa hè năm ấy (1802), chúa Nguyễn hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long, ban tờ dụ ra cho quân dân Nam Hà, Bắc Hà đều biết” .
Lúc này, Đô đốc tượng binh Lê Văn Hoan quyết định giải giáp doanh cơ binh tượng, nhằm bảo toàn sinh mệnh, tránh họa sát diệt cho binh sĩ dưới quyền, để tướng, quân cùng trở về quê nhà. Đây là quyết định khó khăn nhưng đúng đắn của Đô đốc Lê Văn Hoan nhằm bảo toàn tính mạng cho binh sĩ Tây Sơn bởi lẽ, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi đã trả thù nhà Tây Sơn rất tàn bạo. Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ”.
Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được vua tôi anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì.... Xuống chiếu bố cáo trong ngoài”.
Sau khi Đô đốc Lê Văn Hoan giải giáp tượng binh, đội voi chiến Nhà Tây Sơn rơi vào tay quân đội của Gia Long, vốn là những voi chiến đã được huấn luyện kỹ lưỡng, dày dặn sức chiến đấu đồng thời đã quen chủ, nhân việc người chủ mới không thể điều khiển được đàn voi nhà Tây Sơn để lại, đồng thời cảm thấu được lòng nhân ở vị tướng quản tượng Tây Sơn, vua Gia Long triều Nguyễn đã xuống chiếu triệu hồi Lê Văn Hoan ra thống lĩnh tượng binh, tiếp tục cai quản và huấn luyện voi chiến cho triều Nguyễn. Lúc ấy ông ngoài 40 tuổi, thấy mình vẫn còn nặng nợ với bầy voi, không thể bỏ mặc chúng nên vị thống lĩnh tượng binh đã nén tình riêng với chủ cũ, nhận lời vua Gia Long tiếp quản binh tượng.
Quốc sử quán triều Nguyễn, phần Đại Nam Liệt truyện có đoạn chép rằng: “Lê Văn Hoan, người huyện Hoà Vinh, tỉnh Quảng Nam, trước theo giặc làm Đô đốc. Năm Kỷ Mùi (1799), đầu hàng, được làm Quản tượng trong chi chính trưởng chi khâm sai cai cơ, nhiều lần đi theo đánh dẹp, có công lao rõ rệt. Minh Mạng năm thứ 1 (1820), thăng Thị nội Vệ uý, trông coi 3 cơ tượng quân, rồi thăng chức Chưởng cơ, vẫn trông coi 3 cơ tượng như cũ. Năm thứ 6 (1825), vua xuống chiếu cho theo chức cũ kiêm quản 5 cơ tượng và thăng Thự tượng quân thống chế chuyên cai quản cơ Hùng cự và Ngũ kích. Năm thứ 8 (1827), vâng mệnh đi làm việc ở biên giới Nghệ An, khi về được thực thụ”
Dưới triều Nguyễn. Tướng quân Lê Văn Hoan làm quan phò trợ qua hai đời vua là Gia Long và Minh Mạng, với chức trách và bổn phận của mình, ông luôn tận tâm tận lực phò trợ, cống hiến cho đất nước. Dù là đã từng làm quan dưới triều Tây Sơn tuy nhiên ông vẫn rất được trọng dụng dưới triều Nguyễn. Điều này được minh chứng qua những tài liệu được ghi chép lại trong Đại Nam Liệt Truyện và Đại Nam Thực lục.
Dưới triều vua Minh Mạng, ông lần lượt được giao quản các vị trí trong đội voi chiến, sách Đại Nam thực lục, tập hai có các đoạn viết về việc vua Minh Mạng giao phó nhiệm vụ cho ông như sau
“Tháng 6 năm 1820.....Cai cơ Thị tượng là Lê Văn Hoan làm Vệ uý Thị nội, Quản ba cơ Tiền tượng, Tả tượng, Hữu tượng”
“Tháng giêng năm Minh Mạng thứ 6/1825... Đôi bổ Chưởng cơ Lê Văn Hoan chuyên quản năm cơ Dũng tượng, Thịnh tượng và Tiền, tả, Hữu Hùng tượng...Vệ uý quản lý ba cơ Hùng tượng Bắc Thành, vẫn thuộc quyền quản hạt của Lê Văn Hoan, Vệ uý quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng là Nguyễn Văn Nam làm Vệ uý vệ Thị tượng nhất. Lê Văn Hoan, Nguyễn Đình Đề, Nguyễn Văn Toán đều ở lại Kinh cung chức. Sai chế ấn quan phòng và ấn đồ ký cấp cho (1 ấn quan phòng “Hùng cự Ngũ kích”, 1 ấn quan phòng “Thị tượng tam vệ”, 1 ấn quan phòng “Dũng Thịnh Hùng tượng ngũ cơ”, 1 ấn quan phòng “Tiền Tả Hữu Tri tượng tứ cơ”, 1 ấn quan phòng “An Định Kiên Bình Trung tượng ngũ cơ”, đều bằng đồng, cùng dấu kiềm bằng ngà ; 1 ấn đồ ký “Hùng tượng tam cơ” bằng đồng cùng dấu kiềm bằng gỗ).”
“Ngày mồng một tháng 7/1825...Sai Chưởng cơ Lê Văn Hoan kiêm quản Vệ Thành võ”
Cũng trong năm Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 [1825], Chưởng cơ Lê Văn Hoan được thụ chức Thống Chế tượng quân“...Chưởng cơ Lê Văn Hoan làm thự Thống chế Tượng quân quản vệ Hùng cự và cơ Ngũ kích...”
Trong thời gian này, Lê Văn Hoan là sủng thần được vua Minh mạng rất trọng dụng, ông luôn được truyền gọi bàn bạc những việc trọng đại, giao những nhiệm vụ quan trọng và miễn những quy tắc của hoàng tộc, Đại Nam thực lục tập 2 của Quốc Sử Quán triều Nguyễn có các đoạn chép rằng:
“Tháng 12/1825...Miễn cho thự Thống chế là Lê Văn Hoan và Nguyễn Tài Năng khỏi dự đình nghị. Vì hai người xuất thân ở hàng ngũ, chính thể chưa quen nên miễn cho...”
“Tháng Giêng, 1826.... Định lệ đại thần vào trực. Hằng ngày đại thần văn võ đều một người thay phiên nhau trực ở tả hữu vu điện Cần Chính, cấp cho cơm nước và màn nằm, văn thì lấy một viên ty thuộc, võ thì lấy một viên suất đội đi theo, đều cấp cho bài ngà để chiếu nghiệm khi đi lại qua cửa. Thự Thống chế Nguyễn Đăng Huyên, Nguyễn Tài Năng, Nguyễn Văn Hạnh, Phạm Văn Điển, Lê Văn Hoan thì làm một ban riêng thay nhau vào trực”
“Tháng 3/1826... Cho thự Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển và Lê Văn Hoan được dự đình nghị”
“Tháng 9/1826, vua cho thự Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển và Lê Văn Hoan...cùng với các đại thần thay ban vào trực”
“Tháng 2/1827...Cho Đoàn Văn Trường làm Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách, Phạm Văn Điển làm Thống chế Thị tượng, Lê Văn Hoan làm Thống chế Tượng quân, Nguyễn Tài Năng, Nguyễn Văn Hạnh làm Thống chế Thuỷ quân. Lại sai chế cấp cho Phạm Văn Điển và Lê Văn Hoan ấn quan phòng Thị tượng thống chế và Tượng quân thống chế bằng ngà”
Tháng 7 năm 1826, xảy ra vụ án mất trộm một con voi bằng vàng ở Vũ Khố , vụ án này qua nhiều lần điều tra vẫn không tìm được hung thủ chính xác đánh cắp voi vàng dẫn đến kết oán sai người khiến vua rất tức giận, cuối cùng vua Minh Mạng đặc sai Thống chế Lê Văn Hoan cùng một số vị đại thần điều tra lại vụ án, cuối cùng đã bắt được hung thủ chính xác, được vua khen ngợi, sự việc này được chép lại tại Đại Nam thực lục như sau: “...Trước ở ty Vũ Khố có mất trộm con voi bằng vàng, giám lâm Hoàng Văn Tâm ngờ cho khố lại là Trương Văn Tùng, xin giao cho bộ Hình tra hỏi. Tùng đành nhận liều. Chợt có người tố cáo kẻ trộm là Bùi Hữu Tuấn và Nguyễn Văn Thực. Tuấn đã trốn trước, bắt được Thực đem đến xét. Vua đặc sai bọn Lương Tiến Tường, Hoàng Kim Xán, Lê Văn Hoan, Nguyễn Văn Lộc tra hỏi, quả nhiên như thế...”
Trong các chuyến đi tuần du của vua, Thống chế Lê Văn Hoan được truyền gọi thống lĩnh quân binh theo hầu hộ tống, đảm bảo an toàn cho Vua, tháng 5 năm 1827, vua Minh Mạng đi tuần du miền Nam dài ngày, có đi qua địa phận Quảng Nam, Thống chế Lê Văn Hoan thống lĩnh hậu binh đi sau vua hộ giá: “Vua sắp đi tuần miền Nam....Xếp đặt biền binh hỗ tòng (hộ tống). Sai Thống chế Đoàn Văn Trường lĩnh tiền bộ đi cách ngự đạo một quãng, Thống chế Lê Văn Hoan lĩnh hậu đội, cũng đi cách ngự đạo một quãng... Ngày ất dậu, xa giá tự Kinh sư đi ra. Ngày Đinh hợi đến Đà Nẵng, xem đài Điện Hải, rồi đi chơi núi Tam Thai, nghỉ chân ở hành cung “Đỗng thiên phúc địa”. Sai lấy trâu rượu ban yến cho quan lính đi theo, thưởng tiền bạc theo thứ bậc” .
Năm Minh Mạng thứ 8, hai nước Xiêm và Vạn Tượng xảy ra mâu thuẫn, Quốc trưởng nước Vạn Tượng là A Nỗ đánh nhau với nước Xiêm bị thua ; con là Chiêu Ba Thắc bị nước Xiêm bắt, quân và dân tan đi các nơi. A Nỗ thế cùng, chạy ra Ba Động, xin liệt làm dân ngoài biển của nước ta và giữ lễ cống để cầu quân cứu viện. Nghệ An đem việc tâu lên. Vua sai đình thần bàn cách xử trí, đều cho rằng : “Nước Vạn Tượng là thuộc quốc của ta, nay có nạn mà quy thuận ta, nghĩa không nên cự tuyệt. Xin chọn vị đại thần võ ban cho quyền lĩnh Trấn thủ Nghệ An, sai cùng với hiệp trấn và tham hiệp đem quân giữ bờ cõi, vẫn cho Vạn Tượng trú ở Ba Động ; nếu nước Xiêm đến đòi thì tỏ rõ nghĩa lý mà khước đi ; nếu họ xâm lấn bờ cõi ta, quấy rối dân man ngoài biên của ta, thì coi như cầm thú làm hại ruộng ta mà trừ đi. Như thế nước Xiêm sẽ sợ then máy của ta, mà nước Vạn Tượng cũng được nhờ ta che chở” .
Từ sự kiện xung đột giữa Xiêm và Vạn Tượng, vua Minh Mạng cử Thống chế Tượng quân Lê Văn Hoan một số quan đại thần sung Bang quân vụ để phòng bị, sách Đại Nam thực lục có chép:
“...Sai Đô thống chế dinh Long võ quân Thị nội là Phan Văn Thuý sung chức Kinh lược biên vụ đại thần, kiêm lĩnh Trấn thủ Nghệ An, Phó tướng Hữu quân là Nguyễn Văn Xuân sung Bang biện quân vụ đại thần, Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường và Thống chế Tượng quân là Lê Văn Hoan, đều sung Bang biện quân vụ, Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh sung Tham tán quân vụ đại thần, Tham tri Binh bộ là Nguyễn Công Tiệp sung Tham tán quân vụ, đem hơn 2.000 Kinh binh, 30 thớt voi, chọn ngày tiến quân. Đều thưởng cho quần áo và tiền lương một tháng. Lại phái thái y theo đi điều hộ”.
A Nỗ - vua nước Lào gửi phước thư nói quân Xiêm sắp đến Lạc Hoàn, xin cho đem quân đến bảo hộ, lúc này vua sai Lê Văn Hoan cùng với Nguyễn Văn Xuân tiến đóng quân ở Kỳ Sơn đợi lệnh.
Tháng 6, năm Minh Mạng thứ 8 [1827], Tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội quy phục. Trấn Ninh nguyên trước thuộc bản đồ nước ta, đời Gia Long mới đem đất ấy cho nước Vạn Tượng. Đến nay Quốc trưởng Vạn Tượng chạy ra ngoài, nước Nam Chưởng nhờ thanh thế quân Xiêm, thừa cơ đến lấn, dân Man rối loạn. Gặp thám tử của ta đến, Chiêu Nội muốn mưu trở về, nhân xin tiến quân để ngăn xâm lược. Phan Văn Thuý sai Trần Lợi Trinh đến Kỳ Sơn họp cùng bọn Nguyễn Văn Xuân và Lê Văn Hoan mà tuỳ nghi điều độ.
Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa thu, tháng 7, nhân tình hình biên giới yên ổn, Vua Minh Mạng dụ rằng: “Trấn Ninh tình hình đã không nghiêm cấp nữa, việc phòng bị hơi thư, nếu để nhiều quân ở đây, cảm nhiễm lam chướng lâu ngày thì ốm đau càng nhiều. Vậy nên theo dụ trước, những việc cần như sửa sang đồn luỹ thu lấy sổ sách hộ khẩu, thuế khoá, phải trong tuần nhật làm xong, lượng để lại 300 quân sức khoẻ, sai một người Quản vệ đóng giữ đất ấy. Lại hiểu dụ những man tù mới phụ để họ khỏi ngờ sợ. Bọn ngươi cùng Lê Văn Hoan đều rút về Nghệ An, cho quân nghỉ sức”.
Tháng 8 cùng năm, Lê Văn Hoan cùng các tướng trấn thủ ở Trấn Ninh về kinh. “…Đến nơi, vua yên ủi hỏi han hồi lâu. Sai bộ Binh tuyên chỉ úy lạo các tướng sĩ, cho yến lạc (Yến lạc : ăn yến và vui chơi.) ở cửa Chấn Hanh 3 ngày. Thưởng cho bọn Phan Văn Thuý, Nguyễn Văn Xuân, Trần Lợi Trinh, Đoàn Văn Trường, Lê Văn Hoan đều gia một cấp…”
Ngày 7 tháng 4 Năm Minh Mạng thứ 9 [1828] Thống chế Lê Văn Hoan qua đời, đang là một trọng thần được vua tin dùng, khi nghe tin ông mất, vua rất đau lòng.
Sách Đại Nam thực lục chép về cái chết của ông như sau: “Thống chế Tượng quân là Lê Văn Hoan chết. Hoan là người lão thành trọng hậu, vua đương tin dùng, khi nghe tin chết, than tiếc mãi. Tặng chức Đô thống thuỵ là Vũ Khắc, cho thêm tiền tuất 200 lạng bạc, 5 cây gấm Tống. Cho con là Cai đội Lê Văn Tạo làm Quản cơ thí sai cơ Thị tượng”
Cũng viết về cái chết của ông sách Đại Nam liệt truyện chép rằng: “Năm thứ 9 chết. Ban cho tiền tuất, 200 lạng bạc, 5 cây gấm Tàu. Con là Tạo vì tập ấm, bổ chức Cai đội thí sai thị tượng quản cơ, sau có lỗi phải cách chức”
Sau khi ông mất, ông được con trai Lê Văn Tạo đưa về an táng, xây cất mộ tại gò đồi làng Cẩm Toại (nay là thôn Cẩm Toại Tây, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) quê hương ông, đến nay đã gần 200 năm. Từ đó đến nay mộ ông đã qua 1 lần tu sửa vào năm 1963, tuy nhiên về hình dáng kiến trúc của mộ vẫn được giữ gần như nguyên bản so với lúc đầu.
Tại Cẩm Toại, với sự ngưỡng vọng dành cho bậc tiền nhân trong lịch sử, Thống chế Lê Văn Hoan được nhân dân trong làng truy tôn là bậc hậu hiền của làng. Cứ vào kỵ tiền hiền, hậu hiền (24 - 4 âm lịch) tại đình làng có tổ chức cúng tế. Trong văn tế làng có đoạn: “Hậu hiền thần vị. Nghiêm oai tướng quân, thượng hộ quân, tượng quân, thống chế gia tam cấp. Tặng tráng võ tướng quân trụ quốc đô thống thụy võ khắc Lê công chi thần...”
Đại ý: Đây là một vị thần đời sau, là tướng quân đầy oai lực chỉ huy đàn voi chiến. Được phong cấp bậc cao cấp nhất của võ trướng và là vị công thần họ Lê được vua phong tặng tước hiệu đại tướng vì công giữ nước
5. Sinh hoạt văn hóa tính ngưỡng liên quan đến di tích
Hằng năm, lấy ngày mất của ông (ngày 07 tháng 4) con cháu tộc Lê Văn tổ chức dẫy mã, cúng và tưởng nhớ công đức của Thống chế Lê Văn Hoan tại mộ ông và từ đường tộc Lê Văn.
Thần chủ của ông hiện được thờ tại từ đường tộc Lê Văn, thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
6. Khảo tả di tích
Mộ Thống chế Lê Văn Hoan hiện tọa lạc trên một gò đồi cao ở thôn Cẩm Toại Tây, nhân dân gọi gò đồi này là gò Lăng, xung quanh là nhà, mộ của người dân, mộ nằm trên một bình đồ có trục Đông - Tây, cổng quay về hướng Đông. Xét về yếu tố phong thủy âm trạch, mộ được xây trên gò đồi, địa thế cao ráo mặt quay về hướng đông là vượng khí cho con cháu, phía trước lăng cách khoảng hơn 100m có bàu nước, nhân dân gọi là bàu Lãnh đóng vai trò như yếu tố minh đường “tụ thủy tích phúc”, phía sau lưng mộ tựa vào núi Hóc Hầm phù hợp với nguyên tắc “tiền án, hậu chẫm” trong phong thủy.
Mộ có diện tích 15,2m x 10,7m; được xây dựng hoàn toàn bằng các vật liệu vữa, vôi, đá tổ ong, gạch thẻ...Nhìn tổng thể, mộ bao gồm các thành phần chính gồm:
Cổng (trụ ngoài) và tường ngoài
Bình phong
Tường trong và hội đầu
Mộ và nhà bia
Phía trước mộ có tầng cấp đi lên dài khoảng 20m (ngày xưa tầng cấp này là lối đi chính dẫn vào mộ tuy nhiên đến nay đã không còn sử dụng nữa).
Vòng ngoài bao quanh có dạng hình chữ nhật uốn cong bốn gốc, được xếp chồng bằng đá tổ ong, dài 14m rộng 10m, cao 1,2m. Theo Leopold Cadiere trong văn hóa tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt thì tường thành quanh mộ được gọi là “uynh thành” , uynh thành bao quanh mộ và được xẻ phía trước thành lối đi dẫn vào mộ, uynh thành được trổ ngoài thành hai cửa cột vuông đóng vai trò là cửa mộ, có chiều cao mỗi cột 2,1m, phía trên có trang trí hình hai con lân, hai bên trụ cổng có khảm câu đối bằng sứ.
Câu đối ngoài
Chữ Hán:
柱 崁 勲 勞 彰 偉 烈
表 揚 韜 畧 著 洪 謨
Phiên âm:
Trụ khám huân lao chương vĩ liệt,
Biểu dương thao lược trứ hồng mô.
Dịch nghĩa:
Công lao khó nhọc gìn giữ làm nên sự nghiệp vẻ vang,
[Vậy nên được] Biểu dương tài thao lược, gia ân cho mưu định sâu xa.
Dịch thơ:
Huân công khó nhọc, sáng nghiệp lớn,
Thao lược mưu sâu, được trứ phong.
Câu đối giữa
Chữ Hán:
虎 將 嚴 威 標 男 畧
衆 軍 壯 武 振 雄 聲
Phiên âm:
Hổ tướng nghiêm uy phiêu nam lược,
Chúng quân tráng vũ chấn hùng thanh.
Dịch nghĩa:
Tướng quân dũng mãnh như hổ, [thần thái] uy nghiêm, có tài cầm binh giỏi,
Binh lính dưới quyền tráng vũ, tiếng vang chấn động [cả một vùng].
Dịch thơ:
Hổ tướng oai nghiêm, tài thao lược,
Chúng quân tráng vũ, tiếng vang xa.
Phía sau trụ cửa có trang trí hai tượng voi lớn phủ phục phía trước mộ, hình tượng voi phủ phục vừa tạo sự uy ghiêm cho mộ đồng thời là biểu tượng gắn liền với sự nghiệp quản tượng binh của chủ nhân ngôi mộ.
Tiếp đến là bình phong ngoài (bình phong tiền) cao 1,85m, bình phong với những đường thẳng và đường công gấp khúc tạo thành dạng cuốn thư (hay cuốn thơ), phía dưới trang trí kiểu chân quỳ, mặt trước khảm hình Long mã tải hà đồ, hai bên khảm hình hạc đứng chầu và câu đối. Mặt sau bình phong khảm hình chim phượng (phụng) xòe cánh, phía dưới bình phong có bảng chữ quốc ngữ ghi năm xây dựng 1828, tu sửa năm 1963.
Sau bình phong là tường trong bao quanh mộ có hình chữ nhật bạt ở bốn góc, phần giữa của bức tường sau của vòng thành trong được nâng cao lên thành hội đầu (hay còn được gọi là hậu đầu hoặc bình phong hậu) được trang trí tinh xảo, phía trên tạo hình dơi cách điệu, chính giữa khảm sứ hình rồng uốn lượn. Cũng giống như bình phong tiền, phần hội đầu có dùng để “bảo vệ” người chết khỏi các ảnh hưởng ma quái của những “ngọn gió” thổi từ phía đầu (theo hướng nằm của người đã khuất)
Phía giữa khu mộ có nhà bia cao 1,35m bên trong vẫn còn tấm bia có dòng chữ đề rõ mộ được con trai ông là Lê Văn Tạo lập. Nôi dung bia cụ thể như sau:
Chữ Hán:
皇 越
嚴 威 將 軍 上 護 軍 象 軍 統 制 加 三 級 贈 壯 武 將 軍 柱 國 都 統 謚 武 格 黎 公 之 墓
明 命 玖 年 柒 月 拾 肆 日
孝 子 黎 文 造 立 石
Phiên âm:
Hoàng Việt
Nghiêm Uy tướng quân Thượng hộ quân tượng quân Thống chế gia tam cấp tặng Tráng Vũ tướng quân trụ quốc Đô thống chế, thụy Võ Cách Lê công chi mộ.
Minh Mệnh cửu niên thất nguyệt thập tứ nhật.
Hiếu tử Lê Văn Tạo lập thạch.
Dịch nghĩa:
Hoàng Việt
Mộ ngài họ Lê, thụy Võ Cách, chức Nghiêm Uy tướng quân Thượng hộ quân tượng quân Thống chế, gia ba cấp, tặng Tráng Vũ tướng quân trụ quốc Đô thống chế.
Ngày 14 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 9 .
Hiếu tử Lê Văn Tạo lập bia.
Phía mặt sau của nhà bia được trang trí hình con rùa.
Chính giữa là nấm mộ hình chữ nhật vạt bốn gốc, nấm mộ xếp ba tầng nhỏ dần vào giữa.
Phía góc Tây Bắc của khuôn viên lăng, phía bên phải khi nhìn vào (bên ngoài vòng thành ngoài) có một miếu Thổ thần nhỏ bởi theo quan niệm dân gian kẻ chết chôn vào lòng đất bao giờ cũng chiếm một phần lãnh địa của Thổ thần
Nhìn quy mô, kiểu dáng và vật liệu xây bên ngoài, có thể khẳng định mộ Thống chế Lê Văn Hoan thuộc kiểu mộ hợp chất - kiểu mộ chỉ dành có những bậc làm quan lớn hoặc tầng lớp vương giả, với một kỹ thuật kết cấu xây dựng ngoài quách kết gắn với kỹ thuật để thi thể ở trong quan, hướng tới một môi trường khử trùng tốt nhất cho “mồ yên, mả đẹp”.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử Lê Duy Anh: “Nhìn quy mô mộ cổ, có đôi voi chầu thì nhất định ông ấy phải là tướng lớn. Trong những chuyến điền dã, chúng tôi nghe dân địa phương nhắc đến mộ ông thống, mộ Đô thống chế, một số ông thầy địa lý nói rằng thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy trong sương khói bảng lảng hình hài một vị tướng mặc áo gấm ngồi trên bành voi đi xuống từ ngọn đồi…” .
7. Sơ đồ di vật, cổ vật, hiện vật thuộc di tích
Hiện di tích còn các hiện vật tiêu biểu sau
- Một bia mộ bằng đá
- Một cặp tượng voi bằng xi măng phía trước mộ
8. Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của di tích
Lê Văn Hoan, một trong những vị tướng tài dưới triều đại Tây Sơn và nhà Nguyễn. Mặc dù phục vụ dưới hai triều đại được cho là đối nghịch nhau về chính trị nhưng những đóng góp to lớn của ông từ cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh dưới triều Tây Sơn cho đến những năm tháng cống hiến vì nước vì dân dưới triều Nguyễn, bảo vệ biên giới vùng Kỳ Sơn, Trấn Ninh… đã vượt lên khỏi yếu tố chính trị, lịch sử của hai triều đại Tây Sơn và nhà Nguyễn, ông là niềm tự hào của người dân Hòa Vang nói riêng và Đà Nẵng nói chung
Vai trò, tầm quan trọng của ông được minh chứng qua những ghi chép trong các bộ chính sử Triều Nguyễn và trong sự ngưỡng vọng qua các câu chuyện kể về ông của người dân quê hương Cẩm Toại. Ông được phong là Đô thống trụ quốc, thụy là Võ Cách (Võ Khác?). Cái chết của ông đã để lại sự tiếc nuối đối với vua Minh Mạng và người dân quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng lúc bấy giờ.
Cuộc đời và sự nghiệp binh tượng, làm quan của ông đã để lại tấm gương sáng về chí khí, tài năng của người dân xứ Quảng, được quần chúng nhân dân thành kính tri ân.
Chính vì vậy, những di tích gắn liền với tên tuổi của ông như Nhà thờ từ đường tộc Lê Văn và mộ ông được chính quyền, nhân dân và con cháu tộc Lê tại Cẩm Toại, Hòa Phong trân trọng giữ gìn cho đến hôm nay có ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện truyền thống văn hóa tri ân, tôn vinh những anh hùng, nhân vật lịch sử, người có công với quê hương đất nước của chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng. Những địa điểm trên đây sẽ trở thành những địa chỉ tiêu biểu truyền dạy những bài học lịch sử sống động về truyền thống văn hóa, lịch sử, tinh thần yêu nước, cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
9. Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị của di tích
Mộ Thống chế Lê Văn Hoan nằm trong Danh mục kiểm kê di tích theo Quyết định số 8101/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Với những công lao và vai trò của mình trong lịch sử dân tộc, tên của ông đã được mang danh cho một tuyến đường tại xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà nẵng để nhân dân tưởng nhớ.
Ngày nay, mộ Thống chế Lê Văn Hoan được con cháu tộc Lê (Thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong) trông coi và cúng bái. Về phía chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện cũng đã tổ chức nhiều đợt ra quân dọn dẹp, vệ sinh khuôn viên khu mộ theo định kỳ.
Tuy nhiên, sau gần 200 năm, khuôn viên của mộ trước đây ngày càng dần bị thu hẹp do thời gian, sự tác động của con người và các yêu tố tự nhiên. Khu mộ đã xuống cấp, một số hoa văn trang trí, câu đối khảm sứ đã bị mờ, hai tượng voi phủ phục phía trước đã bị gãy mất đầu và ngà. Khuôn viên mộ bị cây cỏ xâm lấn, mộ của người dân xây mới vào khuôn viên mộ, phần bậc thang và con đường dẫn đến mộ từ xưa đã bị mất. Đường dẫn vào mộ hiện nay có lối đi khá chật hẹp và khó đi.
10. Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích:
Để nhằm bảo tồn bền vững di tích, cần nghiên cứu thực hiện các nội dung sau:
Một là tổ chức hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của Thống chế Lê Văn Hoan để thu thập, góp thêm những tư liệu, đánh giá, ghi nhận về công lao, vai trò của ông trong lịch sử, để qua đó mọi người càng nhận thức được rõ hơn giá trị, ý nghĩa của di tích.
Hai là thực hiện tốt việc tuyên truyền giá trị của di tích đến với mọi người dân, trong đó chú trọng các đối tượng là học sinh, sinh viên, thanh niên trên địa bàn.
Ba là có biện pháp cải tạo, mở rộng lối đi từ đường bê tông đến mộ, khôi phục lại khuôn viên, bậc cấp và con đường nguyên bản từ xưa theo hướng chính diện dẫn đến khu mộ để thuận tiện cho việc người dân đến thăm viếng đồng thời tái tạo lại không gian trang nghiêm như xưa cho toàn thể khu mộ của Thống chế Lê Văn Hoan.
11. Kết luận:
Căn cứ Luật Di sản văn hóa ngày 29 tháng 06 năm 2001 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;
Căn cứ Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh;
Xét giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật của di tích,
Bảo Tàng Đà Nẵng kính đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao trình Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định xếp hạng Mộ Thống chế Lê Văn Hoan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang là di tích Lịch sử.
12. Tài liệu tham khảo:
1. Quốc sử Quán triều Nguyễn - Đại Nam Thực lục Chính biên, tập I, NXB Giáo dục, 2007
2. Quốc sử Quán triều Nguyễn - Đại Nam Thực lục Chính biên, tập II, NXB Giáo dục, 2007
3. Quốc Sử Quán triều Nguyễn - Đại Nam Liệt truyện Chính biên, tập II, NXB Giáo dục, 2007
4. Quốc sử Quán triều Nguyễn - Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, NXB Giáo dục, 1998
5. Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược, NXB Kim Đồng
6. Lê Quý Đôn - Phủ Biên tạp lục
7. Ngô Gia Văn Phái - Hoàng Lê Nhất Thống Chí, NXB Văn học, 2005
8. Leopold Cadiere (bản dịch Đỗ Trinh Huệ), Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt, NXB Thuận Hóa, 2010
9. Cristoforo Borri - Xứ Đàng Trong, 1621
10. Quang Trung Nguyễn Huệ, Đại Việt quốc thư, NXB Thuận Hóa (1994)
11. Trần Thanh Tâm, Quan chức nhà Nguyễn, NXB Thuận Hóa (2000)
12. Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược, NXB Kim Đồng, 2017
13. Phạm Văn Sơn - Việt sử tân biên, tập 3, Tr 434
14. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số ra tháng 8/2012.
15. Tập san sử địa số 13, Tháng 1, 2, 3 - 1969
16. Bài viết Giả thuyết cuộc hành quân thần tốc của Hoàng đế Quang Trung, Báo Bình Định, mục Văn hóa, ngày đăng 27/01/2017
17. Bài viết Giải mã sức mạnh có “1-0-2” của tượng binh Tây Sơn (phần 1). Báo Bình Định, mục Văn hóa
18. Đại tá Nguyễn Thế Vỵ, bài viết Tạo bất ngờ - nét nghệ thuật quân sự đặc sắc trong chiến thắng xuân kỷ dậu 1789, Tạp chí Quốc phòng Toàn dân số ra ngày 28/01/2019
19. Tạ Trí Đại Trường, Việt Nam thời Tây Sơn - Lịch sử nội chiến 1771-1802, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân, 2007
20. Bản dịch thần chủ, bia mộ, câu đối Mộ Lê Văn Hoan của Đinh Thị Toan
21. Bản dịch thần chủ, bia mộ, liễn, hoành phi tộc Lê Văn của Lê Văn Nho
22. Bản viết tay Văn tế đình làng Cẩm Toại
23. Ghi chép theo một số lời kể của con cháu tộc Lê Văn và bà con nhân dân thôn Cẩm Toại Trung và Thông Cẩm Toại Tây, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang.
Giờ mở cửa
Cả ngày
Vé tham quan
Miễn phí
Liên hệ
Liên hệ: UBND xã Hòa Vang
Website:
Phương tiện di chuyển: Xe máy, ô tô
Lượt tham quan
0
THƯ VIỆN HIỆN VẬT
Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm