Đình Làng Bồ Bản
5.00/5 ( đánh giá)
Nhìn ra dòng sông Yên hiền hòa với thế đất phong thủy "rồng uốn, hổ chầu", Đình làng Bồ Bản là một trong số ít những ngôi đình cổ còn nguyên vẹn nhất Đà Nẵng từ thế kỷ 19. Công trình mang đậm dấu ấn kiến trúc truyền thống 3 gian 2 chái với bộ khung bằng gỗ mít và kiềng kiềng kiên cố, thờ phụng Thành hoàng cùng 23 vị tiền hiền khai khẩn. Không chỉ là báu vật nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, đình Bồ Bản còn là chứng tích lịch sử oai hùng – nơi xuất phát đoàn biểu tình giành chính quyền năm 1945 và là nơi tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Tham quan ảo 360°
Thông tin địa điểm
Địa chỉ: Phường Hòa Vang, Đà Nẵng, Việt Nam
Giới thiệu
LÝ LỊCH DI TÍCH ĐÌNH BỒ BẢN
(Thôn Bồ Bản - xã Hòa Phong - Huyện Hòa Vang)
1. Tên gọi - tên thường gọi: Đình Bồ Bản
2. Địa điểm phân bố di tích - Đường đi đến
Di tích đình Bồ Bản hiện nay ở tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong - Huyện Hòa Vang - Thành phố Đà Nẵng.
Đi đến đình Bồ Bản chúng ta có thể đi bằng các phương tiện : đi bộ, mô tô, ô tô...Từ chợ Túy Loan đi thẳng theo đường quốc lộ 14 một đoạn khoảng 300m, chúng ta rẽ trái theo một con đường đất nhỏ đi khoảng lkm là đến đình Bồ Bản .
3. Sự kiện nhân vật lịch sử
Vào những năm cuối thế kỷ 15 (khoảng 1476), làng Bồ Bản được hình thành do các vị tiền hiền của các tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn, khi họ từ các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An vào Nam khai khẩn đất đai lập nghiệp. Đến đời Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740) có thêm các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm ... đến ở và trở thành hậu hiền của làng. Trong quá trình xây dựng và phát triển, dần dần đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, để có nơi tổ chức sinh hoạt lễ hội hàng năm và thờ cúng các vị tiền nhân của làng, nhân dân địa phương đã xây dựng đình làng Bồ Bản. Đình được dựng vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800) bằng tranh, tre tại gò Miếu Tam Vị, cách đình hiện nay khoảng 200m về phía Đông. Đến đời Vua Tự Đức thứ V, năm Nhâm Tý (1852), do dân số của làng ngày một đông đúc, ngôi đình lại ở một vị trí quá chật hẹp, nên các cụ già và những người có chức sắc trong làng đã quyết định di chuyển ngôi đình đến địa điểm mới, với địa hình thoáng mát, có thế rồng uốn, hổ chầu để dựng đình, lúc bấy giờ phía sau đình có Gò Miếu cao, phía phải có Gò chùa Miếu Tam Vị (còn gọi là quần Hổ) phía trái cò Gồ Ỡi (còn gọi là Tả Thanh Long hay Long Hổ Hội), phía trước đình là đồng ruộng bao la, tiếp giáp với làng Cẩm Toại và sông Yên. Đình được xây dựng lần này, có sự đóng góp tiền của và công sức của toàn dân nên hoàn chỉnh khá đẹp, với vật liệu vững bền, tường gạch, mái ngói, với lối kiến trúc độc đáo, mang nhiều vẻ đẹp văn hóa và nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Trải qua 1 thời gian dài ngôi đình có nhiều biến đổi và có một vài chỗ hư hỏng, do đó đến ngày 25 tháng 3 năm Bính Ngọ Thành Thái thứ 18 (1906) ngôi đình được trùng tu lại, đứng đầu là cụ Nguyễn Chất (tức Tú Chất) đỗ khoa tú tài được bầu làm Hội chủ; cụ Trần Vị (còn gọi là ông Tri Hương) làm đốc công, cụ Tán Vỹ (thường gọi là ông Xã Vỹ ) làm thư ký, chuyên lo việc trùng tu; cụ Trần Sung (tức cụ Xã Thức) làm lý trưởng hỗ trợ cho việc trùng tu gia cố. Tuy về mặt nghệ thuật kiến trúc của ngôi đình được nâng cao, nhưng vẫn giữ nguyên hiện trạng lúc ban đầu. Hiện nay trên xà cò được trùng tu thời Thành Thái, còn ghi lại hàng chữ “Thành Thái thập bát niên Tế Thứ, Bính Ngọ Tam Nguyệt nhị thập ngũ nhật, y cựu nhân sơn bính hướng; Bổn xã đồng tu tạo...” .
Ngày 12 - 5 - 1990 ngôi đình lại một lần nữa được trùng tu do ảnh hưởng cơn bão số 2 (ngày 19-4-1989) làm cho mái ngôi đình bị trụt, và bên trong có hư một số kèo cột ở hai gian chái...trong lần sửa chữa này, ngồi đình đã được lợp lại toàn bộ mái ngói, xà cò gian chính và phía tả được thay lại; thay 3 cây kèo và 1 cây xuyên về phía Tây, 1 cây cột. Những cây cột được thay đều làm bằng gỗ mít và kiềng kiềng. Về đắp vẽ ở ngoài có long, lân, quy, phụng của thời cổ vẫn giữ nguyên và có đắp thêm 1 cặp dơi, tất cả vẫn giữ nguyên yếu tố gốc ban đầu.
Đình Bồ Bản thời phong kiến lập ra để thờ Thành hoàng bổn xứ, Đại càng quốc gia Nam Hải, Quan công và các vị thần khác...Hằng năm, vào mùa xuân và mùa thu tổ chức tế lễ để mong thần phù hộ. Từ năm 1945 đến nay, theo đà tiến triển của các phái tộc trong thôn nên có sự cải cách mới: đổi ngôi đình thành Thống Tự Đường thờ 23 vị tiền hiền của 23 phái tộc trong thôn.
Ngày mồng 1 tết, các tộc đến làm lễ Minh Niên và chúc nhau trong ngày xuân.
Ngày rằm tháng 2 là ngày lập mộ những tiền hiền của làng.
Ngày rằm tháng 8 là ngày giỗ tiền hiền cầu an...
Đình Bồ Bản còn là điểm xuất phát của dân trong thôn tham gia cách mạng. Tháng 8-1945, đoàn biểu tình của Tổng An Phước - Huyện Hòa Vang xuất phát từ đình làng Cẩm Toại đến tập họp tại sân đình để di cướp chính quyền buộc hương lý giao đồng triện, nộp sổ bộ thôn và bầu Ủy ban hành chính kháng chiến của xã Bồ Bản. Tại đây thường xuyên diễn ra những buổi tiếp xúc giữa dân và cán bộ cách mạng, cử ông Nguyễn Đình Lãng làm chủ tịch; ông Tám Tiên làm Phó chủ tịch; Ông Phạm Điền làm thư ký.
Đây cũng là nơi lập phòng phiếu bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã thành công tốt đẹp; lớp bình dân học vụ đầu tiên được ra đời.
Thời chống Mỹ, tại đây vào năm 1960 đã mở phiên tòa xét xử những người theo Mỹ ngụy từ Ẩp trưởng, Ẩp phó, liên gia trưởng...nghĩa quân, biệt động quân. Năm 1962 cơ sở ta đã họp bàn về phong trào diệt ác phá tề, tiến lên cướp súng đạn địch phá kho tàng...
Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ngôi đình là nơi tiếp nhận ngụy quân, ngụy quyền về đầu thú và giao nộp vũ khí, là nơi để nhân dân trong thôn học tập các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
4. Loại di tích
Đình Bồ Bản thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật - kiến trúc tôn giáo.
5. Khảo tả di tích
Đình Bồ Bản được kiến trúc theo dạng 3 gian 2 chái, dài 9,7m, rộng 14,5m được xây dựng bằng vật liệu gạch ngói, cát sạn vôi và gỗ (chủ yếu là gỗ mít và kiềng kiềng), mái lợp ngói âm dương, tường dày 20cm đến 30cm. Đình được tọa lạc trên một khu đất rộng giữa làng, mặt tiền hướng về phía Nam. Bước vào ngôi đình, công trình kiến trúc và điêu khắc bên trong theo dạng 3 gian 4 vị; phần chính điện, hữu điện và tả điện, tả ban và hữu ban. Phần chính điện rộng 3,1m dài 8,3m, ở giữa đặt bàn thờ hương án để thờ Thành hoàng. Trên bàn thờ phía tả ban có 2 chữ "quan tiền", để thờ tiền hiền; bàn thờ phía hữu ban có 2 chữ "dũ hậu”, để thờ hậu hiền. Có 1 tấm hoành phi ghi tên "Đình Bồ Bản" được đặt trên trính. Về phía tả có đặt 1 long đình (hay còn gọi là kiệu) dùng để thỉnh sắc phong của vua ban. Long đình cao 2,2m , rộng 1m xung quanh chạm hình hoa lá, trên nóc chạm lưỡng long chầu nguyệt, 4 góc chạm 4 hình con lân. Phía hữu có đặt 1 cái trang thờ, xung quanh được chạm trổ đẹp, cao l,2m, rộng lm; trang này thờ Quan thánh đế quân.
Về kết cấu nghệ thuật của các vì kèo, cột..., gian giữa gồm 8 cột cái lưng cao 4,5m, cột lồng nhì trước sau 8 cây cao 3,5m, cột lồng ba trước sau 8 cây cao 2,3m; cột đấm 4 cây, cột quyết 4 cây, cửa hông 4 cột. Tất cả 36 cây đều làm bằng gỗ mít và kiềng kiềng, phía dưới chân cột được làm thành hình quả bí đúc bằng xi măng có chạm trổ. Phần mái hiên với kết cấu kiến trúc chồng rường giả thủ, kèo giao kỷ 4 trụ chụm hình quy cánh quạt, 4 trính giữa chạm đầu rồng, bụng kèo chạm tứ quý xuân, hạ, thu, đông, mai, điểu, tùng, lộc...Tất cả đều dược chạm trổ tinh xảo qua bàn tay của các nghệ nhân Kim Bồng (Hội An) đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đầy tính độc đáo.
Về kết cấu nghệ thuật kiến trúc bên ngoài, trên nóc đình đắp lưỡng long tranh châu; gia thu giữa đắp lưỡng phụng tranh châu; kim quy cá gáy, phi cầm tẩu thú nằm phủ dưới mái thuyền chờ ngày hóa tứ linh (long, lân, quy, phụng). Hai đầu là giao lá chờ ngày hóa long. Gia thu đắp hình mui thuyền, đắp khuôn kẻ chỉ chạm mai, điểu, tùng, lộc...cuối mái ngói đắp cặp kỳ lân chầu phên bất. Ở mặt tiền phía tả thì đắp Thanh Long, phía hữu thì đắp Bạch Hổ (còn được gọi là Long hổ hội) được tạo dáng qua việc lắp ghép sành sứ với kỹ thuật cao đầy tính nghệ thuật cổ kính.
Ở trước mặt tiền của đình có 1 khoảng sân rộng 14,5m dài 19,6m; và có 1 bức bình phong (cổng ngôi đình đã bị hỏng theo thời gian nay chưa được xây dựng lại) rộng 3m cao 2m, mặt trước đắp nối theo dạng phù điêu hình con hổ uy nghi, mặt sau hình con quy bằng kỹ thuật ghép sảnh sứ.
Ở bên trái ngôi đình có một văn miếu không có mái, xung quanh có tường bao bọc cao 0,5m; khán cao 2,2m. Phía tả hữu có đặt 2 bàn thờ nhỏ, Khán được dựng để thờ Thần nông đại đế.
6. Các hiện vật trong di tích
Hiện nay còn 1 hiện vật được gọi là Long đình (hay còn gọi là kiệu); dùng để thỉnh sắc phong của vua. Ngoài ra có hai tượng bằng gỗ (Quan Công và Lưu Bị) được dân làng đem gửi tại Chùa Minh Sư từ năm 1966 để phòng tránh sự mất mát, hư hỏng.
7. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật
Đình Bồ Bản là một ngôi đình có giá trị về nghệ thuật và điêu khắc, được xây dựng vào những năm của thế kỷ 19 với lối kiến trúc cổ kính và nghệ thuật điêu khắc tinh xảo của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng (Hội An) thời bấy giờ, được thể hiện qua các hoa văn trang trí trên các vì kèo, hàng cột; các cây trính được tạo dáng và chạm trổ chi tiết với đầu rồng đuôi lá; bụng kèo chạm tứ quý: xuân, hạ, thu, đông và mai, điểu, tùng, lộc…Tất cả đều được cách điệu tạo dáng hài hòa. Phần trang trí bên ngoài, trên nóc đình với nghệ thuật ghép sành sứ qua hình ảnh lưỡng long tranh châu, lưỡng phụng tranh ngọc, kim quy cá gáy, phi cầm tẩu thú nằm phủ dưới mái thuyền chờ ngày hóa tứ linh...tạo cho ngôi đình dáng vẻ của nghệ thuật cổ xưa, của nền nghệ thuật dân tộc.
Ngoài giá trị về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, đình Bồ Bản còn là nơi hoạt động cách mạng của nhân dân thôn nhà. Qua 2 cuộc kháng chiến, ngôi đình vẫn tồn tại cho đến hôm nay với những giá trị vốn có.
8. Tình trạng bảo quản của di tích
Di tích hiện nay còn nguyên vẹn. Trải qua 1 thời gian dài và qua 2 lần trùng tu: lần thứ 1 vào ngày 25-3 năm Bính Ngọ đời vua Thanh Thái thứ 18 (dương lịch 1906) do các cụ chức sắc trong làng đứng ra huy động nhân lực, tài lực gia cố thêm, để ngôi đình được uy nghi trang trọng nhưng vẫn giữ nguyên hiện trạng kiến trúc ban đầu; lần thứ 2 vào ngày 12/5/1990 ngôi đình được trùng tu do ảnh hưởng của cơn bão số 2 ngày 19/4/1989 làm cho mái ngôi đình bị trụt và bên trong có hư một số kèo cột ở hai gian chái. Sửa chữa lần này lợp lại toàn bộ mái ngói, xà cò gian chính và phía tả được thay lại, thay 3 cây kèo và 1 cây xuyên về phía Tây.
Về đắp vẽ bên ngoài, vẫn giữ nguyên những hoạt tiết trang trí cũ nhưng có đắp thêm 1 cặp dơi. Tất cả đều được tạo tác hết sức công phu và đã cố gắng giữ đúng những yếu tố gốc theo quy cách ban đầu của ngôi đình.
Tình trạng thực tế hiện nay của di tích đang báo động. Một số vì kèo cột đã bị mối mọt rất nhiều, do địa phương chưa làm tốt khâu bảo quản. Chúng ta cần phải có biện pháp chống mối mọt để tránh cho ngôi đình bị sụp đổ.
9. Các phương án bảo vệ, sử dụng di tích
Hiện nay, đình Bồ Bản đang được Ủy ban nhân dân xã Hòa Phong quản lý và giao cho các cụ trong hội lão thành trông coi. Do đình Bồ Bản là 1 di tích có giá trị lớn về mặt nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và lịch sử cách mạng, là một trong những ngôi đình cổ còn nguyên vẹn của thành phố Đà Nẵng, nên Bảo Tàng thành phố Đà Nẵng kính đề nghị:
- Phần bên ngoài xây dựng 1 cổng vào, có hàng rào bao bọc xung quanh, cần phát hoang sạch sẽ.
- Địa phương nên cử người trông nom và làm vệ sinh quét dọn thường xuyên bên trong và ngoài ngôi đình, trồng thêm cây cảnh trước sân đình.
- Phần điêu khắc chạm trổ bên trong đình cần có biện pháp chống mối mọt thường xuyên, để giữ gìn cho di tích được lâu dài.
- Cần sửa chữa nâng cấp đoạn đường đến di tích, tạo điều kiện phát huy tác dụng của di tích để phục vụ cho nhân dân địa phương và khách tham quan du lịch tốt hơn .
10. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích
Xét về mặt ý nghĩa lịch sử, giá trị nghệ thuật của di tích đình Bồ Bản, nay Bảo tàng Đà Nẵng kính đề nghị Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định công nhận di tích để có cơ sở pháp lý cho việc quy hoạch và bảo vệ di tích tốt hơn.
Đình Bồ Bản được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số 01/1999/QĐ-BVHTT ngày 4/1/1999 của Bộ Văn hóa Thông tin./.
Giờ mở cửa
Cả ngày
Vé tham quan
Miễn phí
Liên hệ
Liên hệ: UBND phường Hòa Vang
Website: https://sohoa3dhoavang.danang.gov.vn
Phương tiện di chuyển: Xe máy, ô tô
Lượt tham quan
4
THƯ VIỆN HIỆN VẬT
Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm