Đình làng Cẩm Toại
5.00/5 ( đánh giá)
Xuất hiện trong sử sách từ thế kỷ 16, làng Cẩm Toại là vùng đất địa linh nhân kiệt với ngôi đình cổ kính được xây dựng từ thời nhà Nguyễn. Không chỉ là nơi thờ phụng Thành hoàng bổn xứ, Đình làng Cẩm Toại còn là một "địa chỉ đỏ" của phong trào cách mạng địa phương. Nơi đây từng là trụ sở bí mật của Tổ thanh niên phản đế (1935), nơi tổ chức lễ truy điệu trang nghiêm cho nhà yêu nước Phan Thanh (1939) và là hậu phương vững chắc trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi góc mái, hàng cột tại đình đều thấm đẫm lòng yêu nước và tinh thần kiên trung của bao thế hệ.
Tham quan ảo 360°
Thông tin địa điểm
Địa chỉ: Xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Giới thiệu
LÝ LỊCH DI TÍCH ĐÌNH CẨM TOẠI
Xã Hoà Vang - TP Đà Nẵng
1. Tên gọi
Đình Cẩm Toại.
Tên thường gọi: Đình Cẩm Toại.
2. Địa điểm phân bố di tích - Đường đi đến
Di tích đình Cẩm Toại hiện nay ở tại thôn Cẩm Toại, xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, Thành phố Đà Nẵng. Để đi đến di tích, từ ngã tư Hoà Cầm ta theo đường 14B ngược lên Tuý Loan, qua khỏi UBND xã Hoà Phong đi thêm khoảng 500m ta sẽ thấy trường tiểu học An Phước. Đình Cẩm Toại nằm bên cạnh trường này.
3. Sự kiện - Nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích
Làng Cẩm Toại là một trong những làng có từ lâu đời của thành phố Đà Nẵng. Trong “Ô châu cận lục ” của Dương Văn An viết năm 1555 tên làng Cẩm Toại (lúc bấy giờ là Kim Toại) đã thấy xuất hiện cùng với làng Tuý Loan (Thuý Loan ), Cẩm Lệ, Yến Nê... Đến năm 1776 trong “ Phủ biên tạp lục ” của nhà bác học Lê Quí Đôn lại thấy Cẩm Toại là một trong 21 xã của tổng Lệ Sơn, huyện Hoà vang, phủ Điện Bàn, xứ Quảng Nam. Dưới thời nhà Nguyễn, Cẩm Toại khi thì thuộc huyện Hoà Vang, khi lại sát nhập vào huyện Đại Lộc. Trước thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, Cẩm Toại là một trong 16 làng của tổng An Phước, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam. Làng có ba xóm : Xóm Đông, Xóm Tây và xóm Đình, nay là ba thôn Cẩm Toại Đông, Cẩm Toại Tây và Cẩm Toại Trung thuộc xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.
Nhân dân làng Cẩm Toại xưa đã có truyền thống cần cù lao động, yêu nước và hiếu học. Nhiều gia đình tộc họ có tiếng là hay chữ như tộc Lâm, tộc Phan, tộc Lê... Các cá nhân tiêu biểu là ông Phan Thế Khanh có công lập nên hai xã Cẩm Nê và Cẩm Toại trở thành một trong những tiền hiền làng Cẩm Toại; cụ tú Lâm Hữu Mẫn đã tham gia nghĩa hội được giao nhiệm vụ bang tá tỉnh vụ Nghĩa Hội cần vương Quảng Nam. Sau thất bại của Nghĩa Hội, cụ về quê mở trường nho học ở làng Cẩm Toại. Cụ dạy chữ vì việc nghĩa, không thu tiền. Các học trò của cụ có người xuất sắc như ông Lâm Quang Nhĩ (Tư Mười) đã cùng các ông Lương Chân, Hứa Tạo lãnh đạo cuộc biểu tình “ cúp tóc, xin xâu ” ở vùng này bị xử tù đày đi Lao Bảo và hy sinh trong ngục.
Phong trào Duy Tân khởi phát từ đất Quảng đã thổi bùng một luồng khí thế mới với khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, theo gương các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp, cụ tú Lâm Hữu Mẫn đã giao trường lại cho con là ông nghè Lâm Quang Tự còn mình thì dẫn thanh niên trong tổng lên vùng Đồng Xanh, Đồng Nghệ lập doanh điền.
Ngoài ra còn có vị võ tướng triều Nguyễn họ Lê thường gọi là Lê thống chế, các ông Lâm Quang Nhĩ, Huỳnh Thường Tu, Huỳnh Đức Thiện...là những nhân vật có tiếng trong phong trào Cần Vương, Duy Tân; Ông nghè Lâm Quang Tự, một trí thức yêu nước, có công sáng lập trường An Phước; ông Lâm Quang Thự, đại biểu quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khoá đầu tiên năm 1946 và một số cán bộ cấp cao khác trong các cơ quan Đảng, nhà nước ta hiện nay.
Như bao làng quê khác của Việt nam, làng Cẩm Toại cũng có một ngôi đình phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng và đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương. Ban đầu chỉ là một ngôi đình bằng tranh tre để thờ Thần Hoàng bổn xứ và tiền hiền các chư phái tộc trong làng. Dần dần đến thế kỷ 19, dân làng đã góp công, góp của xây dựng nên ngôi đình như ta thấy hiện nay.
Hàng năm tại đình nhân dân địa phương có tổ chức cúng các lễ như: Tế xuân (15-2 âm lịch), Tế thu (15-8 âm lịch), kỵ tiền hiền (24 - 4 âm lịch)…
Trải qua các thời kỳ lịch sử của đất nước, đình làng Cẩm Toại là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử có ý nghĩa của địa phương.
Năm 1935 đình Cẩm Toại là trụ sở bí mật của nhóm thanh niên phản đế, gồm có Lê Đình Hiên ở Cẩm Toại, Lê Khắc Thiệu ở Hà Nha, Nguyễn Đức Thiệu ở Ái Nghĩa. Sau đó Lê Đình Hiên kết nạp thêm Nguyễn Nghiệp ở Dương Lâm, Nguyễn Cách ở La Châu, Lâm Quang Pháp ở Cẩm Toại thành lập tổ thanh niên phản đế tại đình Cẩm Toại. Hình thức hoạt động của tổ thanh niên phản đế khá phong phú như tổ chức luyện tập và biểu diễn hát bội tại đình Cẩm Toại để quyên tiền mở rộng trường An Phước, truyền bá chữ Quốc ngữ... Từ năm 1936 trở đi, tổ phản đế ngày càng mở rộng, kết nạp thêm Lâm Quang Tiếu, Lê Đình Siêu, Lê Văn Hoàng, Trần Tu ... Lúc này tổ thanh niên phản đế có số lượng khá đông, địa điểm hội họp chính ngoài đình Cẩm Toại, còn có thêm hai địa điểm bí mật khác là nhà của Nguyễn Nghiệp và nhà của Lê Đình Hiên.
Năm 1937 có cuộc bầu cử đại biểu vào Nghị viện dân biểu Trung kỳ, tổ chức cách mạng tỉnh Quảng Nam chủ trương vận động cho Phan Thanh ra tranh cử với một đại biểu khác là Nguyễn Quốc Tuý, tay sai của Thực dân Pháp, do tổng đốc Ngô Đình Khôi đề cử. Đình Cẩm Toại trở thành nơi hội họp công khai của tổ thanh niên phản đế (lúc này đổi tên là tổ thanh niên dân chủ). Cuộc vận động hoàn toàn thắng lợi, Phan Thanh đắc cử vào viện dân biểu Trung kỳ. Không may năm 1939, Phan Thanh qua đời, đồng bào nhất là lớp thanh niên vô cùng thương tiếc, lễ truy điệu được tổ chức tại quê hương ông là làng Bảo An (Gò Nổi). Tổ thanh niên dân chủ cử hai đồng chí Lê Đình Hiên, Nguyễn Cách đi dự lễ truy điệu. Sau khi đi dự iễ truy điệu Phan Thanh ở Bảo An về, tổ thanh niên dân chủ tiến hành tổ chức truy điệu Phan Thanh ở tại đình Cẩm Toại gồm các thành viên trong tổ và một số thanh niên cảm tình đến dự. Buổi lễ đơn giản nhưng trang nghiêm, chỉ có một bát hương và đôi câu đối:
Là nghị viên dân biểu, là chiến sỹ tận tâm, trang sử tương lai: tên bạn viết nên hàng sử đỏ.
Vì hạnh phúc hoà bình, vì quyền lợi dân chúng, con đường tranh đấu: hôn anh nâng mạnh bước người sau.
Tiếp đó, Đình Cẩm Toại cũng là nơi tổ chức vận động tranh cử cho ông Đặng Thai Mai ra thay thế Phan Thanh vào nghị viện dân biểu Trung kỳ. Cuộc vận động đã đạt kết quả tốt đẹp góp phần đưa ông Đặng Thai Mai vào viện dân biểu Trung kỳ.
Năm 1942, dưới tác động mạnh mẽ của mặt trận Việt Minh, đình Cẩm Toại là nơi tập hợp số thanh niên đang hoạt động cách mạng ở địa phương, có thêm một số thanh niên học các trường ở Huế, Quy Nhơn về cùng tham gia như Châu Quang Thuyên, Châu Quang Ngân, Lê Du, Lê Hý, Lê Cử, Trần Hữu Dũ, Lê Đình Hoàng, Chế Viết Tấn, Đặng Thị Hồng, Thị Kê... Các anh, các chị trong tổ chức cách mạng này đều lấy đình làng Cẩm Toại làm trụ sở luyện tập và biểu diễn nhiều vở kịch có tinh thần yêu nước cao như vở Nguyễn Trãi - Phi Khanh, Hội nghị Diên Hồng...để tuyên truyền tinh thần yêu nước cho quần chúng nhân dân.
Vào những ngày chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám, đình Cẩm Toại là nơi cất dấu vũ khí của lực lượng thanh niên cách mạng trong xã. Trước ngày tổng khởi nghĩa, Ban bạo động giành chính quyền tổng An Phước gồm các đồng chí Chế Viết Tấn, Lê Đình Siêu, Trần Hữu Dũ, Lê Đình Hoàng được thành lập và đã tổ chức nhiều cuộc họp tại đây để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi giành chính quyền thắng lợi khoảng 10 ngày, ta đã bắt được 2 tên giặc Pháp ở sông Vàng, huyện Hiên và 5 tên Pháp nhảy dù xuống tháp Mỹ Sơn đem về giam tại đây một thời gian để khai thác rồi mới chuyển lên cấp trên.
Sau ngày Uỷ Ban Nhân Dân Cách Mạng lâm thời tổng An Phước thành lập, đình Cẩm Toại trở thành trụ sở Uỷ Ban.
Từ tháng 9-1945 đến 15-2-1946 Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tổng An Phước đóng tại đình Cẩm Toại đã lãnh đạo các làng trong tổng thưc hiện có kết quả việc động viên cứu đói, vận động thanh niên tham gia quân giải phóng và tham gia đoàn quân Nam tiến, tổ chức hợp nhất 16 làng trong tổng thành 2 xã , bầu ra Uỷ ban hành chính liên xã Liên An - Phước Hiệp, đặc biệt tổ chức thành công bầu cử quốc hội khoá I thắng lợi. Tại đây còn là nơi thu nhận hàng tấn gạo cứu đói, bảo quản số lượng lớn đồng thau quyên góp từ các xã gởi về.
Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (12- 1946 ), Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng chủ trương sơ tán, một bộ phận công tác và tài liệu hồ sơ chuyển lên đình Cẩm Toại một thời gian rồi mới chuyển đến địa điểm mới.
Tháng 2-1947, mặt trận phía Nam sông Tuý Loan, Cẩm Lệ bị vỡ, Bộ chi huy của tiểu đoàn 17, trung đoàn 96 về đóng tại đây một thời gian để cùng cố lực lượng rồi mới chuyển đi nơi khác.
Năm 1947, đình làng Cẩm Toại bị giặc Pháp phá hoại, chúng đánh sập phần Tiền đường và Chính điện, chỉ còn lại phần Hậu tẩm. Lúc bấy giờ cụ Lê Đình Tắc, người giữ sắc phong của làng, đã mang được các sắc phong và hai câu liễn về đặt tại nhà thờ tộc Lê. Nhưng đến năm 1948, giặc Pháp biết nhà cụ có con theo Việt Minh, chúng đem quân về đốt phá nhà thờ tộc, các sắc phong của đình Cẩm Toại cũng bị huỷ hoại theo, chỉ còn lại hai câu liễn hiện nay được treo thờ bên trong đình.
Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Cẩm Toại đã cố gắng giữ gìn hậu tẩm của đình làng, xây dựng lại phần tiền đình đã sụp đổ, để làm nơi thờ cúng và tổ chức lễ hội văn hoá hàng năm ngay tại đình làng.
4. Loại di tích
Di tích đình Cẩm Toại thuộc loại hình di tích Lịch sử - Văn hoá.
5. Khảo tả di tích
Qua hai cuộc kháng chiến, đình Cẩm Toại đã bị chiến tranh phá huỷ chỉ còn lại phần hậu tẩm và bức bình phong trước đình, với tổng thể diện tích là 300m2. Bước vào ngay cổng đình chúng ta bắt gặp ngay bức bình phong được xây bằng gạch và xi măng rộng 2,5m, cao 2m, hai bên có hai cổng phụ ra vào. Trên hai cửa phụ có hai con dơi đang xoè cánh, có bốn trụ hoa sen, hai trụ lồng đèn. Bình phong đắp nổi theo kiểu lá sách cuốn. Mặt trước bình phong được đắp nổi hình Long mã tải Hà đồ, có hai con hạc đang chầu hai bên, mặt sau đắp hình kỳ lân mẹ với hai kỳ lân con được ghép bằng sành sứ khá đẹp mẳt.
Từ cổng vào đình là một khoảng sân rộng 20m, dài 19m vẫn còn nguyên nền đất. Tiếp đó là phần tiền đình, phần này trong kháng chiến chống Pháp đã bị phá huỷ chỉ còn lại phần nền nay đã được xây dựng lại theo dạng 3 gian 2 chái. Tiền đình dài 7,6m, rộng 10,5m có 4 cột chính và 8 cột quân. Cột chính đường kính 30cm, cao 4,4m, cột quân đường kính 30cm, cao 3,3m. Hàng cột hiên được đúc bằng bê tông 40cm x 40cm, cao 2,8m. Kết cấu vì kèo theo lối giao nguyên. Các thanh kèo, xuyên, trinh được bào nhẵn đơn giản.
Phần hậu tẩm là phần còn giữ nguyên yếu tố gốc của ngôi đình từ khi mới xây dựng. Hậu tẩm được xây dựng rất kiên cố cấu trúc theo kiểu tò vò, xây cuốn bằng gạch, tường dày 0,4m chiều dài 3m, rộng 3m, chính giữa đặt một bàn thờ chính rộng l,4m cao 2,2m tả hữu đặt 2 bàn thờ nhỏ thờ các vị thần được phong sắc. Đặc biệt bên ngoài phần hậu tẩm đình Cẩm Toại xây cao l0m, có hai tầng, bốn mái, tầng trên nhỏ hơn tầng dưới, tạo thành 4 bức tường bằng nhau, mỗi tường đắp nổi một con vật, theo bộ tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng rất đẹp. Trên mái là hình lưỡng long chầu nguyệt, phía sau là 2 lá sách xếp, trong lá sách có bài thơ chữ nho và 2 cuốn sách.
Ngay trước mặt tiền phía trên hàng hiên là 3 chữ Hán lớn: Thống hội đường. Hai trụ hiên trước cửa chính giữa có hai hàng câu đối:
Thiên nhật nguyệt, địa sơn hà, vạn cổ nhân cơ lưu thắng tích.
Tích linh đình, kim thống hội, thiên thu nghĩa sỹ túy anh phong.
6. Các hiện vật trong di tích
Các sắc phong đã bị thực dân Pháp đốt cháy, chỉ còn lại hai bức liễn hiện treo trong đình.
7. Các hình thức sinh hoạt văn hoá, dân gian, lễ hội
Hàng năm, tại đình, nhân dân địa phương có tổ chức cúng các lễ như: Tế xuân (15 - 2 âm lịch ), Tế thu (15 - 8 âm lịch), kỵ tiền hiền (24 - 4 âm lịch)…
Mục đích tổ chức chủ yếu tưởng nhớ đến tiền nhân đã có công khai phá lập nên làng Cẩm Toại đồng thời cầu cho dân làng được yên ổn làm ăn, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt.
8. Giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật
Đình Cẩm Toại ngày nay là một di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hoá ở địa phương bởi được xây dựng từ lâu đời, gắn bó cùng nhân dân địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, do chiến tranh ngôi đình cũ nay không còn nguyên vẹn như thuở đầu mới xây dựng, các phần kiến trúc và điêu khắc có giá trị đã bị huỷ hoại một phần. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đình Cẩm Toại là địa điểm diễn ra nhiêu sự kiện lịch sử gắn bó với phong trào cách mạng ở địa phương. Do đó di tích đình Cẩm Toại ngoài giá trị về mặt văn hoá, rất có giá trị về mặt lịch sử.
9. Tình trạng bảo quản di tích
Tiền đình Cẩm Toại đã bị phá huỷ trong thời chống Pháp chỉ còn lại phần hậu tẩm. Trong kháng chiến chống Mỹ (năm 1957-1959) người dân địa phương xuất phát từ tinh thần uống nước nhớ nguồn đã huy động nhân tài vật lực để xây dựng lại phần tiền đình đã sụp đổ, để thờ phụng và làm nơi hội họp của người dân trong làng.
Ngôi đình hiện được bà con làng Cẩm Toại bảo quản nguyên vẹn.
10. Các phương án bảo vệ, sử dụng di tích
- Cần giữ nguyên các yếu tố gốc còn lưu giữ được như hậu tẩm, câu đối...
- Tôn tạo cảnh quan để phát huy tác dụng của di tích.
11. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích
Căn cứ các điều 28, 29, 30 Luật di sản văn hoá được Quốc hội thông qua ngày 29 - 6 - 2001 và điều 13, 14, 15 Nghị Định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11 - 11 - 2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá; Căn cứ quyết định Đăng ký bảo vệ của UBND thành phố Đà Nẵng số 6017/QĐ-UB ngày 07/10/1999; xuất phát từ giá trị Lịch sử - Văn hoá của đình Cẩm Toại cùng với đơn đề nghị của nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã Hoà Phong, Bảo Tàng Đà Nẵng kính đề nghị Sở Văn hoá - Thông tin trình Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra quyết định công nhận di tích đình Cẩm Toại là di tích Lịch sử - Văn hoá của thành phố.
BẢO TÀNG ĐÀ NẴNG
Tài liêu tham khảo:
- Ô châu cận lục - Dương Văn An - Nhà xuất bản Thuận Hoá 1996.
- Phủ biên tạp lục - Lê Quí Đôn - Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin.
- Lịch sử đấu tranh cách mạng thành phố Đà Nẵng.
- Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Hoà Vang.
- Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hoà Phong.
- Một số tài liệu và lời kể của bà con nhân dân thôn Cẩm Toại.
Giờ mở cửa
Cả ngày
Vé tham quan
Miễn phí
Liên hệ
Liên hệ: UBND Xã Hòa Vang
Website: https://sohoa3dhoavang.danang.gov.vn
Phương tiện di chuyển: Xe máy, xe ô tô
Lượt tham quan
0
THƯ VIỆN HIỆN VẬT
Những hiện vật quý giá được lưu giữ tại địa điểm